[Books]Bộ sách Cẩm nang tư duy – Richard Paul, Linda Elder

Thông tin sách

Tên sách:

Cẩm nang Tư duy phản biện – Khái niệm và Công cụ (Số trang: 46, QĐXB: 27/09/2015; ISBN: 978-604-58-3086-4)

Cẩm nang tư duy Đọc (Số trang: 75, QĐXB: 25/10/2015; ISBN: 978-604-58-3089-5)

Cẩm nang tư duy Viết (Số trang: 75, QĐXB: 23/09/2016; ISBN: 978-604-58-3090-1)

Cẩm nang tư duy Học tập và Nghiên cứu (Số trang: 83, QĐXB: 25/10/2016; ISBN: 978-604-58-3091-8)

Cẩm nang tư duy Đặt câu hỏi bản chất (Số trang: 111, QĐXB: 25/10/2016; ISBN: 978-604-58-3088-8)

Cẩm nang tư duy Đạo đức (Số trang: 83, QĐXB: 07/09/2016; ISBN: 978-604-58-5661-1)

Tác giả: Richard Paul, Linda Elder

Dịch giả: Nhóm dịch thuật NXB Tổng hợp TP.HCM

Hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn


Tổng hợp cá nhân

Ai nên đọc và đọc cuốn sách Cẩm nang tư duy nào?

Không phải bất cứ ai cũng cần phải đọc hết bộ sách này, có người chỉ cần đọc 1-2 cuốn để giải quyết các vướng mắc có liên quan đến cuộc sống, các mối quan hệ hay công việc của họ là đủ, nhưng cũng có người sẽ thích đọc hết. Riêng cá nhân tôi thì thấy có vài cuốn phù hợp với chuyên môn của một vài nhóm cá nhân như sau:

  • Cẩm nang tư duy Lịch sử: rất thích hợp cho những người nghiên cứu về lịch sử, những chuyên gia về sử học.
  • Cẩm nang tư duy Kĩ thuật: phù hợp với những người làm việc trong các ngành khoa học, kĩ thuật và ứng dụng.
  • Cẩm nang tư duy Học tập và Nghiên cứu: phù hợp với đối tượng là học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên và nhất là những người làm công việc nghiên cứu.

Những cuốn sau đây thì lại phù hợp với hết thảy mọi người:

  • Cẩm nang tư duy Đọc: hầu hết chúng ta đều tiếp nhận thông tin từ báo (báo giấy hoặc báo điện tử), tạp chí hay sách, đọc thư từ, email hay tin nhắn…nói chung là chúng ta đọc hàng ngày. Không có lí do gì mà không học cách đọc để tiếp nhận thông tin tốt hơn cả.
  • Cẩm nang tư duy Viết: mặc dù phần đông chúng ta viết ít hơn đọc, song đó cũng là một kĩ năng thiết yếu. Hãy nhớ lại những lần viết email hay gửi phản hồi về một sản phẩm nào đó, hoặc đơn giản là mộ đơn xin việc làm, chúng ta viết nhiều nhưng viết chưa thực sự tốt. Viết để đọc, viết để học, cho nên mỗi người cũng cần trang bị cho mình một cuốn.
  • Cẩm nang Tư duy phản biện: suy nghĩ đúng, hành động (có lẽ) sẽ đúng. Mà đọc và viết cũng là những hành động thể hiện cho suy nghĩ, tâm tư và tình cảm của chúng ta.
  • Cẩm nang tư duy Đặt câu hỏi bản chất: chúng ta thường hỏi nhiều nhưng chất lượng của các câu hỏi lại kém, và vì chất lượng kém nên chúng lại dẫn dắt ta đi sai hướng ngay từ ban đầu. Đối diện với mỗi tình huống phát sinh thường ngày, nhiều người thường lựa chọn cách làm theo thói quen hoặc kinh nghiệm của bản thân – điều này giúp chúng ta tiết kiệm được thời gian song lại cản trở chúng ta tư duy và sáng tạo, đôi lúc lại dẫn đến những quyết định tai hại. Những người khác đặt ra những câu hỏi cho những tình huống này và dựa vào đó để giải quyết – những người này thường có khả năng tư duy tốt hơn nên làm việc cũng năng suất và hiệu quả hơn, tuy vậy, nếu định hướng từ đầu đã không đúng thì lại dẫn đến kết quả không như mong muốn. Dẫu sao, lựa chọn là ở bạn!
  • Cẩm nang tư duy Đạo đức: đối với tôi thì đây là vấn đề cốt lõi cho lối sống hiện nay của mọi người. Xã hội ngày nay đang phát triển (theo tôi) một cách thiên lệch về kĩ năng, công việc và thu nhập trong khi lại bỏ qua các chuẩn đạo đức truyền thống tốt đẹp của những thế hệ trước. Tôi không nói tất cả, mà là phần lớn mọi người là như thế. Cuốn sách này không chỉ là phù hợp, theo tôi thiết nghĩ, mà là thực sự cần phải có cho mỗi cá nhân.

Phần tiếp theo tôi sẽ tổng hợp lại những nội dung mà theo tôi (và cũng là cho cá nhân tôi) là quan trọng. Mọi người nên đọc từng cuốn trong bộ sách để chọn cho mình một (vài) cuốn phù hợp hơn cả.

Tổng hợp nội dung theo ý kiến cá nhân

1.    Những yếu tố của tư tưởng

  • Mục đích của lập luận này là gì?

Mọi lập luận đều có mục đích của nó, và chúng phải được phát biểu một cách rõ ràng trước khi tranh luận. Mục đích cần đảm bảo tính thực tế và phải được tập trung xuyên suốt nội dung trình bày.

Khi đọc một nội dung, ta cần biết được mục đích của tác giả khi viết nó (mục đích cuối cùng của họ khi viết những điều này là gì?) và thông thường thì họ sẽ trình bày chúng ở phần mở đầu hoặc phần kết thúc đối với mỗi nội dung. Lấy ví dụ với sách, ta nên đọc lời tựa, chương đầu (thường là chương dẫn nhập vấn đề) và chương cuối (hoặc phần bình của tác giả ở cuối sách, nếu có). Trong quá trình đọc, ta cũng nên thường xuyên xem lại những mục tiêu này để đối chiếu liệu tác giả có đang tập trung vào mục đích hay đang mở rộng vấn đề sang một hướng khác có liên quan hoặc không liên quan.

Khi viết, ta trình bày mục đích một cách cụ thể và rõ ràng ngay ở phần đầu – thông tin đến cho độc giả biết là ta đang muốn đề cập hoặc giải quyết vấn đề gì, sau đó (có thể) nhấn mạnh thêm một lần nữa ở phần cuối – khẳng định lại hoặc đề xuất giải pháp cho những vấn đề được nêu trước đó. Trong quá trình viết, tự nhắc bản thân là ta muốn viết về điều gì, và những gì ta đang viết có phục vụ điều đó hay không.

Khi tranh luận, ta nên đề nghị mọi người trình bày mục đích của họ trước khi hỏi hoặc phản biện lại lập luận của họ. Trong quá trình tranh luận, nếu họ diễn giải vấn đề lệch hướng hoặc dẫn sang một vấn đề khác thì yêu cầu họ điều chỉnh trở lại và tập trung giải quyết vấn đề ban đầu. Đôi khi, chúng ta quá ham tranh luận và dẫn vấn đề đi quá xa nên cuối cùng không giải quyết được những mục tiêu đề ra trước đó.

  • Chúng ta đang trả lời cho những câu hỏi nào?

Có những câu hỏi chỉ có một câu trả lời duy nhất, không phụ thuộc vào đạo đức của chúng ta, giống như việc luộc chín trứng gà. Những câu hỏi khác thì có nhiều hơn một câu trả lời hợp lý, và mặc dù có thể được củng cố bằng phán đoán hay các sự kiện, mỗi cá nhân lại có một cách trả lời khác nhau như việc ăn tôm sống thì nên chấm mù tạt hay muối ớt cay vậy.

Tìm hiểu câu hỏi cốt lõi mà tác giả nghĩ đến khi viết ra những nội dung này. Những mẩu thông tin ngắn hoặc một bài viết xã luận đơn giản thì thường chỉ có một câu hỏi, trong khi những nội dung lớn hơn như sách, tài liệu học thuật thì thường chứa một hoặc nhiều câu hỏi phức hợp, liên ngành. Việc xác định được loại câu hỏi có thể giúp ta hình dung ra cách thức mà tác giả giải quyết vấn đề cũng như để nắm bắt nội dung tốt hơn.

Khi vào vai trò của người viết, ta có thể diễn đạt câu hỏi cốt lõi của ta bằng cách tách ra những câu hỏi nhỏ hơn và giải quyết ngay sau đó để độc giả tiện theo dõi cũng như theo dõi lập luận của ta.

Khi tranh luận, ta cũng nên chia vấn đề ban đầu thành các câu hỏi nhỏ hơn để làm rõ những thắc mắc về vấn đề gây tranh cãi. Qua đó ta có thể dễ dàng xử lý câu hỏi gốc thông qua các câu hỏi cụ thể và kiểm tra xem những lập luận của đối phương có đang thực sự là nhằm giải quyết những vấn đề đó hay không.

  • Góc nhìn của bạn là gì?

Mọi người đều đưa ra ý kiến từ góc nhìn của bản thân, mà ít khi chịu nhìn nhận vấn đề từ một góc độ khác. Nếu ta nhìn một khối hình nón từ trên xuống, ta sẽ thấy nó có dạng như hình tròn; còn nếu ta nhìn ngang thì ta sẽ thấy đó là hình tam giác – thực tế thì, nó vẫn là khối hình nón mà thôi.

Khi đọc, ta cần làm rõ góc nhìn của tác giả đối với vấn đề mà họ trình bày (họ nhìn nhận vấn đề này dưới vai trò nào?). Trước khi đọc nội dung của một cuốn sách, ta có thể tìm hiểu về tác giả và đọc một số lời bình phẩm cho sách. Như vậy, ta sẽ biết được tác giả đang nhìn nhận vấn đề này ở góc độ cá nhân (niềm tin, quan điểm, kinh nghiệm) hay ở góc độ xã hội (ảnh hưởng của nơi tác giả lớn lên, học tập, làm việc hay sinh sống), tác giả có liên hệ với những góc nhìn khác hay không. Việc này rất có lợi cho việc viết vì chúng ta được tiếp cận nhiều góc độ khác nhau từ nhiều tác giả đối với cùng một vấn đề.

Khi viết, ta cần nêu lên quan điểm nhìn nhận vấn đề của bản thân để độc giả hiểu và cảm thông hơn cho ta. Bên cạnh đó, ta cũng cần phải tìm hiểu (các) góc nhìn của độc giả để có thể giải thích những lập luận của ta cho họ hiểu. Vì tính chất của việc viết nên ta không dễ nhìn từ góc độ của độc giả một cách trực tiếp (bằng cách hỏi và đáp), thay vào đó ta có thể giả định một số góc nhìn mà ta đã biết trước đó.

Góc nhìn của mỗi người, nói chung, là không hoàn toàn giống nhau. Song, chúng dựa trên nhận thức của chúng ta, thứ mà ta có thể truy nguyên dựa vào nơi ta lớn lên, ta được giáo dục như thế nào và ta làm công việc gì. Mỗi góc nhìn cá nhân đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, do đó khi lập luận một vấn đề ta cần xét nhiều hơn một góc nhìn để có cái nhìn tổng quát và phù hợp hơn. Không nên tranh cãi quá gay gắt chỉ vì khác biệt về niềm tin, vì nhìn chung thì những gì ta tin tưởng cũng chỉ là tương đối.

  • Giả định cho những lập luận này là gì?

Mọi lập luận đều dựa trên các giả định (và phải như vậy) và những giả định này có thể được biện minh. Có những giả định là những điều hiển nhiên, nhưng cũng có những giả định cần được tra vấn hợp lí. Tranh luận mà không dựa vào giả định tốt, cũng giống việc xây cao ốc trên một nền đất yếu mà không làm cọc khoan nhồi, đều dẫn đến những kết quả sai lệch hoặc thất bại.

Mỗi tác giả luôn có một vài giả định trước khi viết một nội dung nào đó. Nếu họ không đề cập đến, nghĩa là họ nghĩ rằng đó là những điều hiển nhiên, thì việc của ta là tìm ra và kiểm chứng. Những giả định này có thể định hình góc nhìn và giúp cho chúng ta hiểu vì sao tác giả lại diễn giải theo hướng này mà không không phải là hướng kia. Hơn nữa, kiểm chứng được những giả định này có hợp lí, phù hợp hay không sẽ chỉ ra những sai lầm hay thiên lệch của tác giả, giúp ta tránh được những hiểu biết không đúng.

Để không phải ngồi nhìn tòa cao ốc ở trên “chìm dần” vào đất, ta cần trình bày những ý kiến của mình dựa trên những giả định vững chắc và hợp lí. Muốn được như vậy, mỗi khi bắt đầu viết ta cần biết được những giả định nào mà ta sẽ sử dụng và những lập luận được trình bày có thực sự dựa trên giả định này hay không. Chất lượng của giả định sẽ quyết định chất lượng của lập luận, và để nâng cao chất lượng của các giả định thì ta cần tự bổ sung kiến thức (đọc sách, báo, tài liệu chuyên ngành) và cập nhật các hiểu biết đã được kiểm chứng.

Khi tranh luận, bằng cách nêu rõ các giả định cũng như xác định được giới hạn của các giả định này sẽ giúp ta tập trung vào vấn đề cần giải quyết, hiểu hơn về góc nhìn của mọi người và cũng tránh được những tranh cãi không cần thiết do dựa trên những giả định không tốt.

  • Bạn dựa vào những thông tin, dữ kiện hay bằng chứng nào để giải thích/củng cố cho lập luận này?

Ai cũng có thể nói, thậm chí nói rất tốt, cho đến khi ta yêu cầu họ đưa ra bằng chứng hoặc dẫn chứng cụ thể. Không có dữ kiện hay bằng chứng củng cố thì lập luận của ta cũng chỉ như ngôi nhà làm bằng giấy vậy, đẹp và rất mỏng manh.

Để củng cố lập luận, các tác giả đều đưa ra những số liệu, dữ kiện, dẫn chứng nghiên cứu vào trong bài viết của mình. Tuy nhiên, không phải thông tin nào cũng đúng và chính xác, hoặc những chi tiết được đưa ra rất cụ thể nhưng lại chẳng liên quan đến vấn đề đang đề cập. Đôi lúc tác giả lại sử dụng những thông tin sai để đánh lừa dư luận hay nhằm trục lợi cho bản thân. Do đó, kiểm chứng thông tin là cách để ta vừa có thể tiếp nhận tốt hơn các lập luận của tác giả, vừa giúp ta bác bỏ những suy luận sai lầm nếu có của tác giả. Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng truy cập nguồn thông tin vô hạn trên Internet, nhưng ngoài việc tìm ra thông tin nào thực sự cần thiết thì ta còn phải sàng lọc và loại bỏ những thông tin giả, “bẩn” được phát tán tràn lan trên mạng.

Tương tự như vậy, để chứng minh cho một luận điểm hay bảo vệ quan điểm của bản thân thì ta cần viện thêm dẫn chứng, bằng chứng một cách thuyết phục. Các nghiên cứu chuyên ngành cung cấp thông tin rất đáng tin cậy, thông tin từ sách, báo – đài và ti-vi cũng rất hữu ích, ngoài ra ta còn có thể hỏi ý kiến từ các chuyên gia, bổ sung (và kiểm tra lại) hiểu biết và sự kiện từ những người bạn, đồng nghiệp. Khi viết, ta cần trích dẫn nguồn một cách chính xác để đảm bảo cho lập luận của bản thân và tránh những hiểu lầm không đáng có (vấn đề đạo văn). Tôi đang sử dụng Microsoft Word (phiên bản 2016) để soạn văn bản và tôi thấy các công cụ trên tab References của nó rất hữu ích trong việc trích dẫn, đặc biệt là mục Research.

Bằng chứng nào ủng hộ lập luận này của bạn? Dữ kiện này có đúng hay không và nó có liên quan gì đến vấn đề mà ta đang tranh luận ở đây không? Không phải thông tin nào ta cũng biết hoặc sẵn có để ta tham khảo, vì vậy, nếu cảm thấy bối rối trước một số liệu nào đó thì ta nên đề nghị đối phương cung cấp cho ta nguồn dẫn của họ. Những khác biệt về dữ liệu hay sự kiện có thể là do nguồn cung cấp hoặc cũng có thể là do cách thức thu thập hay tính toán thống kê gây ra.

  • Lý thuyết hay khái niệm nào định hình cho lập luận của bạn?

Những lập luận tốt thì đều dựa trên những lý thuyết và khái niệm cốt lõi và thể hiện thông qua chúng. Khi tôi nói rằng nếu cứ leo trèo như thế, theo thuyết Vạn vật hấp dẫn của Newton, thì bạn sẽ bị té sấp mặt đấy – tôi chỉ đùa thôi, ý tôi là đừng làm như thế vì Newton, mà hãy vì cái mông của bạn.

Nếu thường xuyên đọc báo cáo tài chính của ngân hàng thì bạn không lạ gì những cụm từ như “vốn điều lệ” hay “tỉ lệ dự phòng”, nhưng nếu là người ngoại đạo thì bạn sẽ đôi phần bối rối khi đọc những phân tích này nếu không được giải thích những thuật ngữ này là gì. Và mỗi lĩnh vực lại có những từ chuyên môn riêng mà không phải ai cũng biết và hiểu hết. Bên cạnh đó là các lý thuyết, mỗi lý thuyết bao hàm một mảng kiến thức cụ thể và đặc thù mà hiếm có người nào tinh thông hết thảy. Do đó, khi đọc những nội dung có liên quan tới những khái niệm, những lý thuyết mà ta chưa biết và điều này khiến ta không thể hiểu hết được tác giả đang diễn đạt điều gì thì tốt nhất ta nên tìm hiểu lại trước khi vướng những rắc rối tiếp theo. Mặc dù trong một số trường hợp ta vẫn có thể nắm bắt được kết luận cuối cùng mà không cần biết nội dung của những khái niệm hay lý thuyết đó là gì, song không có gì đảm bảo là không có lầm tưởng trong tư duy giống như việc “mèo mù vớ phải cá rán” vậy.

Thường thì các lý thuyết và khái niệm đều yêu cầu một số giả định phù hợp. Vì vậy khi ta muốn sử dụng những lý thuyết và khái niệm này trong bài viết của mình thì ta cần phải thỏa mãn cho các giả định của nó. Ví dụ, trong thống kê, khi tiến hành phân tích phương sai ANOVA thì ta cần có giả định dữ liệu tuân theo phân phối chuẩn còn nếu không có giả định này (và ta cũng không áp dụng Định lí giới hạn trung tâm được) thì phải thay thế bằng kiểm định Kruskal – Wallis. Tóm lại, đối với những định nghĩa được đưa vào bài viết thì ta phải giải thích ý nghĩa của chúng cho độc giả và (nên) minh họa bằng hình ảnh hoặc công thức đơn giản; còn nếu ta muốn sử dụng một lý thuyết để làm vững chắc hơn cho diễn giải của bản thân thì ta cần làm rõ sự phù hợp của chúng trong bối cảnh mà ta trình bày; và cuối cùng, ta phải đảm bảo sử dụng chính xác các khái niệm và lý thuyết trong lập luận.

Trong tranh luận, ngoài việc xác định những khái niệm, nguyên tắc, mô hình, lý thuyết mà đối phương và ta đang sử dụng, ta còn phải chắc rằng ta đã hiểu rõ những giải thích khác nhau dựa trên những khái niệm và lý thuyết đó. Ta chỉ có thể hiểu những khái niệm và lý thuyết khi nào ta có thể diễn đạt chúng một cách trôi chảy và trung thực, nếu không thì ta vẫn chưa thực sự hiểu. Tránh việc bóp méo các ý niệm với bất kì mục đích nào hay cung cấp thông tin sai lệch nhằm tư lợi cho bản thân.

  • Kết luận của bạn là gì?

Nếu không suy luận hay diễn giải thì các dữ kiện chẳng có ý nghĩa gì cả, và cũng chẳng có kết quả nào cả. Làm sao ta biết được tình hình hoạt động kinh doanh của công ti năm nay tốt hơn năm trước, chẳng phải nhờ vào việc ta phân tích được rằng trong năm vừa qua doanh thu tăng trong khi các khoản chi phí lại giảm, và sau đó tổng hợp lại thì thấy lợi nhuận tăng lên so với năm trước đấy thôi.

Khi đọc một cuốn sách, có rất nhiều kết luận và ta cần biết biết cái nào là quan trọng và cái nào thì thực sự cần thiết cho ta. Đa số các kết luận đều được rút ra sau một quá trình suy luận hay diễn giải, và do đó thường nằm ở cuối một nội dung. Các kết luận đều hướng tới mục đích chung của cuốn sách, do đó ta có thể sử dụng các kết luận này để đối chiếu việc tác giả có đang tập trung vào nó hay không. Điều này cũng tương tự khi đọc báo, tạp chí, các nghiên cứu hoặc một mẩu tin tức nào đó.

Khi viết, ta cần học cách tóm lại nội dung sau mỗi phần. Một mặt, điều này giúp ta tránh diễn giải lan man và không cần thiết, mặt khác nó giúp ta định hướng lại tâm thế khi đọc tác phẩm của ta. Kết luận hay sẽ giúp độc giả nắm bắt vấn đề tốt hơn, có trọng tâm và hiểu rõ hơn những lập luận của ta.

Suy luận nhất quán, đồng thời xem xét tới những suy luận khác trong suốt quá trình tranh luận giúp ta có được một kết luận đầy đủ và hợp lý. Bên cạnh đó, ta cần phải chú ý sử dụng những dữ kiện, số liệu mà ta hoặc đối phương cung cấp để làm vững chắc thêm những kết luận của ta.

  • Hàm ý và hệ luận của bạn là gì?

Nếu chấp nhận những lập luận này, thì chúng sẽ dẫn chúng ta đến đâu?

Một khi đã chấp nhận những lập luận có lô-gic của tác giả, ta cần biết rằng tác giả đang muốn dẫn chúng ta đến điều gì. Nếu không thì tất cả những lập luận ở trên đều trở thành một mớ những vụn vặt có ý nghĩa. Như những kho báu của hải tặc, thường được tìm thấy ở cuối mỗi bộ phim, ta cũng có thể (may mắn) tìm thấy hàm ý của tác giả ở những dòng cuối cùng của bài viết. Hàm ý và hệ luận không phải là mục đích. Nó vượt ra ngoài cả mục đích, liên kết các lập luận lại với nhau để soi rõ con đường tri thức cho chúng ta đi tiếp.

Khi chúng ta viết, ta cần ý thức được rằng có những mối liên hệ vô hình giữa các lập luận và chúng sẽ định hình cho độc giả biết hàm ý mà ta muốn gửi gắm ở đây là gì. Để làm được điều này thì ta cần xác định hàm ý trước, sau đó xây dựng một “đề cương” về những lập luận mà ta sẽ trình và quan trọng nhất là sợi dây liên kết những lập luận này đến hàm ý của ta.

Vấn đề đối với tranh luận cũng tương tự như khi ta viết vậy. Tuy nhiên, khi tranh luận thì ta phải vận dụng bộ não để xây dựng những liên kết này trong tâm trí, không phải ở trên giấy và vì thế, nên sẽ kém trực quan hơn khi viết. Hơn nữa, ta dễ dàng chỉnh sửa và có thể làm nhiều lần trước khi hoàn chỉnh một nội dung nào đó, còn khi tranh luận ta không có đủ thời gian để làm điều này.

Những câu hỏi:

Mục đích chính của lập luận này là gì?

Câu hỏi cốt lõi mà lập luận này muốn đề cập là gì? Có thể chia thành các câu hỏi nhỏ hơn để giải quyết hay không?

Góc nhìn của ta đối với vấn đề này như thế nào? Chủ quan cá nhân hay là chủ quan xã hội?

Lập luận này dựa trên những giả định gì? Có thể biện minh cho những giả định này không? Những giả định này định hình góc nhìn của ta như thế nào?

Những thông tin, dẫn chứng hay sự kiện nào ta có thể sử dụng cho lập luận này? Chúng có đúng và đáng tin cậy hay không? Chúng có liên quan đến lập luận của ta hay không?

Lý thuyết hay khái niệm nào được sử dụng trong lập luận của ta? Có thể diễn đạt chúng lại cho dễ hiểu hơn được hay không? Chúng có phù hợp với giả định của ta hay không?

Kết luận của lập luận này là gì? Ta có suy luận nhất quán không? Ta đã suy luận theo những hướng khác chưa?

Nếu những lập luận của ta là đúng thì nó sẽ dẫn ta đến điều gì? Những lập luận này có liên kết với nhau không?

2.    Các chuẩn trí tuệ phổ quát

Các chuẩn trí tuệ này nên là chuẩn mực cho mỗi tư duy của chúng ta, trở thành tiếng nói bên trong và định hướng cho những lý luận của ta trở nên tốt hơn.

  • Sự rõ ràng: ta không thể nói gì về một phát biểu không rõ ràng, vì nó vốn chưa (thực sự) nói gì cả. Ta có thể khắc phục bằng cách yêu cầu làm rõ phát biểu, đề nghị diễn đạt lại theo một cách khác hay cung cấp một ví dụ minh họa.
  • Sự đúng đắn: một phát biểu đúng đắn thì có thể kiểm tra được.
  • Sự chính xác: cụ thể hơn, nhiều chi tiết hơn.
  • Tính liên quan: sự kết nối giữa câu trả lời và câu hỏi.
  • Chiều sâu: tính phức hợp – một phát biểu/câu hỏi có thể hàm chứa nhiều hơn một vấn đề.
  • Chiều rộng: xem xét cùng một vấn đề dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
  • Tính lô-gic: các lập luận được kết nối một cách có ý nghĩa.
  • Sự công bằng: xử lí mọi quan điểm có liên quan một cách như nhau, không thiên lệch về tình cảm hay lợi ích riêng.

3.    Những đặc trưng của trí tuệ cơ bản

  • Khiêm tốn trí tuệ: ta không nên phát biểu nhiều hơn những gì ta thực sự biết. Đồng thời phải tự nhận thức được khiếm khuyết trong nền tảng lô-gic của ta.
  • Can đảm trí tuệ: nhận ra rằng những kết luận và niềm tin của ta đôi khi là sai lầm. Và do đó, ta học cách lắng nghe một cách chân thành, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động, biết phê phán những gì được học.
  • Cảm thông trí tuệ: biết đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu họ.
  • Tự trị trí tuệ: cam kết là sẽ phân tích và đánh giá những niềm tin dựa trên cơ sở của lý trí và bằng chứng, sẵn sàng đặt câu hỏi – tin tưởng – tuân theo khi cảm thấy hợp lý.
  • Chính trực trí tuệ: áp dụng các chuẩn trí tuệ một cách nhất quán, và nếu có sơ sót thì phải thực lòng thừa nhận; tự đặt ra những chuẩn mực như nhau giữa ta và những người phản đối ta, sẵn sàng thực hiện những gì ta tán thành cho người khác.
  • Bền bỉ trí tuệ: sẵn sàng tranh đấu với những bất minh bất chấp việc phải tốn một thời gian dài để đạt được hiểu biết hay nhận thức sâu sắc hơn.
  • Tin vào Lý tính/Lý trí: tin tưởng rằng về lâu dài lợi ích của ta sẽ cao hơn nếu ta thực sự chịu tư duy.
  • Công bằng: đối xử bình đẳng như nhau dưới mọi góc nhìn.

4.    Các loại câu hỏi

a.     Câu hỏi phân tích

Đặt câu hỏi về cấu trúc tư duy: các câu hỏi có liên quan đến những yếu tố của tư tưởng (xem lại phần 1. Những yếu tố của tư tưởng)

Ba loại câu hỏi hệ thống

Câu hỏi một hệ thống: những câu hỏi này thường chỉ có một câu trả lời đúng đắn. Để trả lời những câu hỏi loại này thì cần có bằng chứng và lập luận bên trong một hệ thống (môn học, lĩnh vực, ngành nghề). Kết quả của câu hỏi dạng này sẽ đưa ta đến với tri thức => các câu hỏi về toán học, các bộ môn khoa học như vật lí và sinh học.

Câu hỏi phi hệ thống: câu trả lời cho những câu hỏi này thường là một ý kiến chủ quan do nó đòi hỏi sự ưu tiên chủ quan từ người trả lời. Kết quả là ta không thể đánh giá được những câu trả lời này là đúng hay sai => các câu hỏi về cảm nhận cá nhân.

Câu hỏi đa hệ thống: do cần bằng chứng và lập luận từ nhiều hệ thống, mà những hệ thống này thường xung đột với nhau, những câu trả lời cho câu hỏi đa hệ thống có thể tốt hơn hay tệ hơn bình thường. Kết quả là ta chỉ thu được những phán đoán => các câu hỏi về bộ môn nhân văn như lịch sử, triết học, kinh tế, xã hội học, nghệ thuật.

Câu hỏi về thuyết Tuyệt đối giáo điều và thuyết Tương đối chủ quan

Theo thuyết Tuyệt đối giáo điều: mọi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng

Theo thuyết Tương đối chủ quan: mọi câu hỏi đều thuộc về ý kiến cá nhân, do đó không có câu trả lời đúng hay không đúng. Những người theo thuyết này thường cố gắng biến những câu hỏi đòi hỏi phán đoán có lý lẽ thành câu hỏi ưu tiên sự chủ quan của cá nhân, ngụy – tư duy phản biện, và kết luận rằng tư kiến của mọi người là như nhau.

Để đưa về một trong ba dạng câu hỏi hệ thống ở trên thì ta nên đặt thêm một số câu hỏi để xác định cụ thể: Ta có cần xem xét thêm những sự kiện liên quan nào nữa hay không?

Câu hỏi về các Khái niệm

Những câu hỏi mang tính Định nghĩa: để trả lời, ta cần hiểu nghĩa có sẵn của các từ và cách chúng áp dụng riêng vào những trường hợp và hoàn cảnh.

Những câu hỏi Phi định nghĩa – Khái niệm phức hợp:

  • Xem xét những trường hợp điển hình của khái niệm
  • Xem xét những trường hợp đối lập với khái niệm
  • Xem xét những trường hợp liên quan, tương tự
  • Xem xét những trường hợp vừa mang đặc điểm điển hình, vừa mang đặc điểm khác với điển hình.

Câu hỏi nhận diện những câu hỏi đi trước

Nhận diện ra những câu hỏi được tiền giả định trong một câu hỏi mà ta đang quan tâm.

b.    Câu hỏi đánh giá

Đánh giá lập luận (tổng quát): các câu hỏi có liên quan đến các chuẩn trí tuệ phổ quát (xem lại phần 2. Các chuẩn trí tuệ phổ quát)

Đánh giá lập luận (bộ phận): các câu hỏi có liên quan đến các yếu tố của tư tưởng (xem lại phần 1. Những yếu tố của tư tưởng)

5.    Đánh dấu ý khi đọc

Diễn giải

Kí hiệu

Ý tưởng, khái niệm Khoanh tròn
Định nghĩa Gạch chân
Kết luận quan trọng Dấu cảm thán
Những chỗ không hiểu Viết câu hỏi hoặc sử dụng dấu chấm hỏi.
Những chỗ khó hiểu Kí hiệu [prob]
Thông tin, dữ liệu, bằng chứng Kí hiệu [info]
Góc nhìn của tác giả Kí hiệu [pov]
Giả định Kí hiệu [assump]
Hàm ý Kí hiệu [implic]
Công thức hóa những ý tưởng Công thức
Lập sơ đồ thể hiện các mối quan hệ Sơ đồ

6.    Về tư duy Đạo đức

Các quyết định đạo đức đòi hỏi hiểu biết có chiều sâu. Vấn đề chính không phải là phân biệt rạch ròi giữa cái giúp ích và cái gây hại, song khuynh hướng tự nhiên của ta lại gần như tập trung chuyên biệt vào chính bản thân mình và những người có quan hệ gần gũi với mình. Kết quả là, chỉ ít người (trong bất kì xã hội nào) hành động nhất quán dựa trên các nguyên tắc đạo đức khi ứng xử với “kẻ bên ngoài”. Chúng ta thường sử dụng chuẩn kép trong việc áp dụng các nguyên tắc đạo đức vào trong cuộc sống, và do đó, khiến cho ta (thường xuyên) có những quyết định sai lầm. Người có động cơ đạo đức phải học nghệ thuật tự phản biện và phản biện xã hội cũng như tự kiểm điểm đạo đức.

Phần lớn nhận thức đạo đức nhận thức của ta đến từ một sự nhìn nhận thấu đáo những sự không nhất quán trong hành vi của con người, chẳng hạn như nói một đàng làm một nẻo, áp dụng chuẩn này cho mình và chuẩn kia cho người khác. Có 3 mẫu mở rộng tính cách của con người:

  • Người không phản biện: không quan tâm đến việc phát triển các năng lực trí tuệ, do đó họ dễ bị thao túng bởi những người phản biện tư lợi. Kết quả là trở thành nạn nhân hay bị dẫn dắt mù quáng để làm những việc không tốt cho người khác.
  • Người phản biện tư lợi: những người này quan tâm đến việc phát triển các năng lực trí tuệ chỉ để phục vụ cho lợi ích bản thân. Họ thường thao túng những người có đầu óc đơn giản hơn, khiến cho những người này trở thành người bị hại, gián tiếp hoặc trực tiếp. Những người phản biện tư lợi là những kẻ vô đạo đức, tự cho mình là công chính và tự lựa mình.
  • Người phản biện có tinh thần công bằng: họ quan tâm đến việc phát triển các năng lực trí tuệ để phục vụ cho mình nhưng vẫn tôn trọng quyền và nhu cầu của người khác. Họ luôn cố gắng hành động ngay thẳng và kết quả là trở thành những người (sẽ) được đối xử một cách hợp lý và công bằng. Những người phản biện có tinh thần công bằng là những người có đạo đức, biết cảm thông và công chính.

Đạo đức học và giả – đạo đức học:

Điều cốt lõi là phải phân biệt đạo đức học với những phương cách tư duy khác vốn hay thường bị lẫn lộn với đạo đức học, dưới đây là 4 lĩnh vực thường hay bị nhầm lẫn với đạo đức học nhất:

Tôn giáo: các tín ngưỡng tôn giáo, khi ngự trị trong một nhóm người, có xu hướng định hình nhiều phương diện cuộc sống của một người với các qui tắc, đòi hỏi, cấm kị và nghi lễ. Tự bản thân của những tín ngưỡng này không đúng mà cũng không sai, chúng chỉ đơn giản là đại diện cho những ưu tiên xã hội và những lựa chọn chủ quan trên phương diện văn hóa.

Các qui ước xã hội: ngay từ đầu, chúng ta đã bị quy định về mặt xã hội. Những lối sống truyền thống bên trọng mỗi nhóm xã hội hoặc văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia, khiến cho đối với những cá nhân trong một nhóm cố định thì chúng có vẻ là cách duy nhất và hợp lí để hành động. Đặc biệt, đối với các cấm kị tính dục, nhiều người quên rằng những gì với bản thân là đáng lên án về mặt xã hội có thể lại không vi phạm bất kì nguyên tắc đạo đức nào, mà thay vào đó, có thể chúng chỉ đơn giản là khác với các qui ước xã hội.

Ý hệ chính trị: một ý hệ chính trị sẽ mang lại một phân tích về việc phân phối hiện tại về của cải và quyền lực, và đưa ra các chiến lược phù hợp với phân tích đó. Hầu hết mọi ý hệ chính trị đều phát ngôn nhân danh “con người”, song trên thực tế thì hầu hết chúng lại cam kết với các nhóm lợi ích tư lợi có quyền lực. Khi đấu tranh lẫn nhau giành quyền lực và sự kiểm soát, các phong trào và các lợi ích chính trị thường hi sinh các lý tưởng đạo đức cho lợi ích thực tế.

Pháp luật: các luật thường nảy sinh từ các qui ước và cấm kị xã hội. Có những điều mang tính nghĩa vụ đạo đức có thể phạm pháp trong khi những điều vô đạo đức lại hợp pháp, nói chung, không có sự kết nối bản chất nào giữa đạo đức học và pháp luật.

Những hành vi sau đây tự-nó-và-vì-nó là vô đạo đức:

  • Nô lệ
  • Diệt chủng
  • Khủng bố
  • Tra tấn
  • Phân biệt giới tính
  • Phân biệt chủng tộc
  • Sát nhân
  • Hành hung
  • Hiếp dâm
  • Lừa gạt
  • Dối trá
  • Đe dọa
  • Trừng phạt người khác mà không cho họ biết họ bị kết tội gì hay cho họ cơ hội hợp lí để tự biện hộ
  • Trừng phạt người khác chỉ vì những quan điểm chính trị hay tôn giáo của họ.

Về ý nghĩa của các sự kiện và góc nhìn đối với đạo đức học:

Có nhiều góc nhìn khác nhau để nhìn và diễn giải một nhóm sự kiện phức tạp. Việc cởi mở với một dãy nhận thức từ nhiều góc nhìn đa dạng và việc sẵn lòng tra vấn góc nhìn của ta là điều cốt yếu cho “tính khách quan”. Để lập luận khách quan xuyên suốt một vấn đề đạo đức phức tạp, ta phải xem xét một dãy rộng các góc nhìn có liên quan, đạt được nhận thức sâu sắc từ tất cả các góc nhìn đó, nhận ra những điểm yếu và tính thiên lệch của mỗi góc nhìn, và tích hợp những gì ta học được thành một góc nhìn toàn bộ, nhiều khía cạnh và bao quát hơn. Ai cũng chỉ biết được một phần nhỏ sự kiện, nên không thể nào trình bày được hết mọi sự kiện (cho dù nếu một người biết hết sự kiện, không có gì đảm bảo là họ sẽ trình bày được toàn bộ chúng mà không có bỏ sót sự kiện nào). Ta vốn không thể trình bày mọi sự kiện quan trọng được, vì dù biết hết các sự kiện thì ta vẫn cần nhiều tiêu chí đối chọi nhau để xác định cái gì là “quan trọng”.

Những yếu tố của lập luận đạo đức và lô-gic của một câu hỏi đạo đức:

Xem phần 1.Những yếu tố của tư tưởng.

7.    Những vấn đề cần tránh khi tư duy

a.     Vấn đề của tư duy “lấy cái Tôi làm trung tâm”

Nó đúng vì tôi tin nó! – niềm tin cá nhân.

Nó đúng vì chúng tôi tin nó! – niềm tin của nhóm.

Nó đúng vì tôi muốn tin nó! – tin vào những gì mà bản thân “cảm thấy tốt”.

Nó đúng vì tôi luôn luôn tin nó! – tin vào những niềm tin lâu đời dù có bằng chứng biện minh hay không.

Nó đúng vì tin nó là lợi ích vị kỉ của tôi! – tin vào những gì biện minh cho việc tôi có được nhiều lợi ích cá nhân hơn.

b.    Vấn đề của tư duy “lấy xã hội làm trung tâm”

Luôn đặt văn hóa, dân tộc, tôn giáo của mình lên trên của người khác.

Ưa thích những mô tả tích cực về bản thân và những mô tả tiêu cực về người khác.

Tuân phục một cách mù quáng những quy định, luật lệ của nhóm.

Tư duy bị kìm hãm bởi những định kiến truyền thống của nền văn hóa.

Không chịu nghiên cứu và tìm hiểu về các nền văn hóa khác.

Nhầm lẫn giữa đạo đức và cấm kị văn hóa.

Không có đầu óc phê phán truyền thông đại chúng.

Không có đầu óc tư duy một cách lịch sử và một cách nhân học.


Đôi lời của bản thân và đánh giá

Tôi đặt mua bộ sách này trong đợt sinh nhật của Fahasa, trong một nỗ lực đảm bảo số lượng sách từ 10 cuốn trở lên để hưởng ưu đãi giảm 10% cho giá trị của đơn hàng. Và tôi cảm thấy bộ sách này khá là hữu ích và cần thiết cho hầu hết mọi người.

Mặc dù là một người hay đọc sách (khoảng 50 cuốn sách mỗi năm) nhưng tôi vẫn cảm thấy kĩ năng đọc của mình chưa thực sự tốt. Thời gian mà tôi đọc xong một cuốn sách khoảng 200 trang là khoảng 1-2 tuần, thậm chí có khi tôi tốn gần 1 tháng để đọc một cuốn sách chỉ dày khoảng 300 trang. Chất lượng đọc cũng là một vấn đề, có nhiều cuốn sách mà tôi, sau khi đã đọc xong chúng, quên đến hơn 80% nội dung, cá biệt là có những cuốn mà tôi chẳng còn chút ấn tượng nào sau khi cất chúng vào thùng. Một vấn đề nữa là tôi không có hứng đọc những cuốn sách hồi kí, truyện dài hay tiểu thuyết cho dù tôi nghĩ rằng tôi vẫn nên tìm hiểu ít nhiều và cũng để cho tâm hồn thêm mơ mộng (tôi nghĩ điều này sẽ có ích cho góc nhìn của tôi đối với cuộc sống).

Kĩ năng viết của tôi còn tệ hơn cả kĩ năng đọc, mà một phần là do tôi không thường xuyên luyện tập. Tôi có cảm giác là tôi thiếu từ vựng để diễn đạt suy nghĩ của mình, dù là tiếng Anh hay tiếng Việt. Và vì thế, khi gặp những vấn đề về cuộc sống, khi đọc tin tức thời sự hay khi tôi viết sách về công việc giảng dạy của mình tôi thường bỏ dở việc viết giữa chừng cho dù tôi vẫn còn thích.

Việc giao tiếp người khác thông qua nói chuyện với họ về vấn đề của tôi hay lắng nghe người khác nêu vấn đề của họ cũng gặp rắc rối tương tự như việc tôi viết một nội dung nào đó vậy. Vì thế nên tôi cho rằng nếu cải thiện được kĩ năng viết thì kĩ năng nói chuyện lẫn kĩ năng lắng nghe của tôi cũng được nâng cao theo.

Cả 4 kĩ năng này, thật may mắn là chúng tương đồng với nhau, sẽ được cải thiện theo khả năng tư duy của mỗi người. Luyện tập tư duy một cách đúng đắn sẽ giúp chúng ta khắc phục những vấn đề mà tôi đã nêu ở trên đây. Bộ sách Cẩm nang Tư duy chính là cuốn sách hướng dẫn chúng ta luyện tập tư duy như thế.

Mỗi cuốn sách được viết rất ngắn gọn nhưng đó là những “tinh hoa”, chúng ta không chỉ đọc mà còn phải thực hành thường xuyên như việc hít thở không khí vậy. Mặc dù vậy, tôi vẫn thấy có vài điểm chưa được của bộ sách:

  • Nếu chỉ đọc riêng lẻ từng cuốn thì không có vấn đề gì, tuy nhiên khi đọc xong 3 cuốn (Cẩm nang tư duy đọc, Cẩm nang tư duy viết và Cẩm nang tư duy phản biện) thì tôi thấy nội dung trùng lặp khá nhiều. Theo tôi thì nhiều nội dung giữa các cuốn sách trong bộ sách này có mối liên hệ với nhau, do đó, chẳng lạ gì khi ta sẽ gặp lại vấn đề của cuốn sách này ở một cuốn sách khác. Và đó cũng là lí do tôi tổng hợp lại ở trong bài viết này.
  • Bộ sách này được dịch lại nên có nhiều chỗ câu chữ khá lạ. Đôi chỗ thì là do văn phong của những người dịch (thế hệ đi trước), đôi chỗ câu chữ được dịch quá thô. Hi vọng là những lần tái bản tiếp theo thì nhà xuất bản nên chú trọng hơn vấn đề dịch thuật.
Điểm đánh giá: 3,5/5
Advertisements