[Book]Đạo quân Trung Quốc thầm lặng – Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo

Thông tin sách

Tên sách: Đạo quân Trung Quốc thầm lặng

Tác giả: Juan Pablo Cardenal, Heriberto Araújo

Dịch giả: Nguyễn Đình Huỳnh

Số trang: 366

Quyết định xuất bản số 1539/QĐ-NXBHNV cấp ngày 11/10/2016


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Tôi được thầy tôi giới thiệu cuốn sách này (trước đó ông cũng khuyên tôi tìm đọc cuốn Tư bản thân hữu Trung Quốc) và lập tức tìm mua trên mạng vì những đánh giá hấp dẫn của ông.

Ở chương đầu tiên của cuốn sách, tác giả đã cho ta thấy một sự di cư của người dân Trung Quốc sang các quốc gia khác ra trong vài thế kỉ qua và những lợi ích mà “đế chế” này nhận được từ làn sóng di dân này. Người Trung Quốc đã di cư và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh ám muội tại các quốc gia kém và đang phát triển. Lí do họ lựa chọn những nước này là vì pháp luật lỏng lẻo và nhiều cơ hội làm ăn cho họ. Bên cạnh đó, chính quyền Trung Quốc cũng được lợi từ sự di dân này trong việc đối phó với nạn thất nghiệp và giảm căng thẳng xã hội đang tồn tại trong nội bộ quốc gia. Hơn thế nữa, những người dân di cư này thường trở về sau đó với một số vốn đáng kể để đầu tư vào giáo dục con cái hay kinh doanh cho Trung Quốc.

Một điều đáng chú ý khi nói đến cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài chính là mối liên hệ mạnh mẽ giữa họ. Một ví dụ điển hình là nếu có một người Trung Quốc muốn kinh doanh thì những đồng hương của anh ta sẽ sẵn sàng giúp đỡ cho dù họ không có mối quan hệ gia đình hay sắc tộc gì cả. Đối với mỗi người dân Trung Quốc thì Trung Quốc là một nhà nước – nền văn minh (không phải là nhà nước – quốc gia như suy nghĩ của những người dân ở các quốc gia phương Tây), và do đó, ý thức thuộc về nền văn hóa – truyền thống với lịch sử lâu đời của họ sẽ không biến mất dù họ có cư trú trên một lãnh thổ có nền văn hóa – xã hội khác. Ý thức chủ nghĩa dân tộc mà Bắc Kinh thúc đẩy trong nhân dân đã lan ra khỏi biên giới Trung Quốc và xâm nhập vào tất cả cộng đồng của họ ở nước ngoài. Những cộng đồng này đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính cho sự phát triển tại chính quốc, và được biết với tên gọi “Hội Trung Hoa vĩ đại”. Một vấn đề khác, nó như là lo lắng của nước Nga hơn, là nỗi sợ về một cuộc xâm lăng thầm lặng trong tâm trí người Nga đối với anh bạn láng giềng phương Nam này khi chứng kiến một Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Những hoạt động kinh doanh bất chấp của thương nhân Trung Quốc ở nước ngoài được hai giả trình bày thông qua các mẩu chuyện là nội dung chính của chương hai. Quốc gia đầu tiên được đề cập là Kazakhstan, cửa ngỏ vào Trung Á của Trung Quốc. Đất nước này gần như bị phụ thuộc hoàn toàn vào hàng hóa của Trung Quốc (một phần là do hệ thống giao thông kém phát triển, mà nếu có cải thiện thì cũng chỉ mang lại lợi ích cho lái buôn Trung Quốc). Khu vực Tân Cương cũng được Trung Quốc đầu tư đáng kể nhằm hai mục đích chính: i) ổn định tình hình chính trị tại đây và ii) tạo ra thêm các cơ hội giao thương trong và ngoài Trung Á. Sở dĩ Trung Á là mục tiêu của Trung Quốc trong những năm gần đây được các tác giả phân tích là do nhu cầu nguyên liệu cũng như lợi ích thương mại cho sự phát triển thần kì của Trung Quốc sau khi nước Nga để lại khoảng trống quyền lực ở những nơi này. Đối với Iran, Trung Quốc đang chơi một nước cờ đôi, một mặt vẫn tiếp tục lợi dụng các cơ hội kinh doanh với nước này, mặt khác lại phải thể hiện trách nhiệm của một “nước lớn” trên các diễn đàn quốc tế. Rõ ràng là Iran cũng biết những rủi ro từ Trung Quốc, và rằng mối quan hệ này là bất ổn nhưng họ không có nhiều lựa chọn. Hồng Kông là một đáp án tạm thời cho cả hai khi mà phần lãnh thổ này giờ đây đã “thuộc” về Trung Quốc (Một quốc gia, hai chế độ) nhưng vẫn duy trì được các quyền lợi từ các kí kết có từ thời bị Anh đô hộ. Tình hình với Dubai thì khá hơn một chút, khi mà Dubai vẫn nắm trong tay quyền lực tương đối để kiểm soát và đảm bảo cân bằng hơn khi làm ăn với những thương nhân người Trung Quốc. Ở Châu Phi, Trung Quốc đang cố gắng tái tạo lại mô hình kinh tế Châu Âu thuộc địa mà Đế quốc Anh đã thực hiện vào thế kỉ 19 thông qua việc tận dụng những mối quan hệ để kinh doanh (một cách không hợp pháp) tại những quốc gia kém phát triển. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, người dân ở các nước Châu Phi có cơ hội tiếp cận hàng hóa từ Trung Quốc và Trung Quốc ngay lập tức tận dụng các bảo hộ luật pháp từ WTO để phổ biến hàng hóa của mình ở những nước này. Nhưng, phân tích sâu hơn thì ta thấy đây là một trò chơi một chiều mà lợi ích luôn thuộc về Trung Quốc: họ nhập tài nguyên thiên nhiên từ các quốc gia Châu Phi sau đó xuất khẩu thành phẩm trở lại các quốc gia này với số lượng lớn hơn nhiều (nôm na là nhập khẩu nguyên liệu để làm 1 cái áo nhưng lại xuất khẩu 10 cái áo). Hậu quả là nhiều ngành công nghiệp ở các quốc gia này bị sụp đổ khiến cho việc phụ thuộc vào hàng hóa của Trung Quốc càng ngày càng trầm trọng. Còn ở Argentina, những người nhập cư Trung Quốc thâm nhập vào lĩnh vực siêu thị đầy hấp dẫn và kiểm soát gần như toàn bộ tại đây. Cùng một cách thức như những nơi khác, sử dụng những qui ước xã hội lâu đời, cộng đồng người Trung Quốc đã dựng lên các cửa hàng nhờ sự giúp đỡ từ các đồng hương và phát triển mạng lưới này (một cách không chính thức) thành công. Tóm lại, cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài đã tận dụng mọi cơ hội kinh doanh tại các quốc gia phát triển kém hơn, những quốc gia không được phương Tây và Nga chú trọng, để tạo ra ảnh hưởng của mình từ mọi phương diện, từ người sản xuất cho đến khách hàng. Và những người Trung Quốc này cũng không ngại (hay có thể nói khác đi là họ thích) sử dụng các phương thức kinh doanh không chính thống, các mối quan hệ không minh bạch cũng như lờ đi các qui định pháp luật của nước sở tại để làm giàu.

Vậy, Trung Quốc đã và đang làm gì tại các quốc gia kém và đang phát triển? Câu trả lời có ở chương ba và chương bốn: khai thác tài nguyên và mang về Trung Quốc. Chỉ vậy thôi. Hãy điểm qua một vài quốc gia được đề cập trong hai chương này:

  • Myanmar: ở Myanmar có hai thứ mà lái buôn Trung Quốc rất thích, đó là gỗ rừng và đá quí. Nói về gỗ thì người dân ở Kachin (1 bang của Myanmar) có lẽ là những người thấu hiểu hơn hết khi họ đã chứng kiến những gì mà các doanh nghiệp Trung Quốc đã làm với những cánh rừng ở nơi đây. Còn đối với đá quí, đặc biệt là đá ngọc bích hoàng đế, lái buôn Trung Quốc cũng tiếp cận với một cách khá tồi tệ không kém: tiếp cận nguồn hàng và sau đó loại bỏ dần các trung gian để hưởng lợi “dày”. Bên cạnh đó, việc khai thác khoáng sản thiếu trách nhiệm của các công ti Trung Quốc ở Myanmar đã gây ra nhiều hệ lụy về xã hội như ma túy, mại dâm, sức khỏe người dân và môi trường tự nhiên. Song, đây không phải là sự đánh đổi cho tương lai nào hết. Vì các quá trình sản xuất và chế biến đề ở Trung Quốc nên Myanmar chỉ giống như là sân bãi khai thác mà thôi. Trung Quốc thực sự đã lợi dụng rất tốt những khó khăn của Myanmar do các biện pháp trừng phạt quốc tế gây ra cho quốc gia này cũng như củng cố lợi ích địa chính trị để củng cố quyền lợi của họ ở nơi đây.
  • Peru: Trung Quốc đã sử dụng các công ti nhà nước như là một con bài chiến lược trong việc tiếp cận các mỏ khoáng sản tại quốc gia này. Một mặt, các công ti này thể hiện vai trò là những nhà đầu tư vô trách nhiệm với môi trường. Mặt khác, chúng lại được miễn trừ trách nhiệm vì lí do chính trị và đặc quyền ngoại giao có được từ vị thế của Trung Quốc.
  • Congo: tại quốc gia cực kì bất ổn về chính trị và kinh tế này, Trung Quốc cũng chơi chiêu bài “đầu tư vốn lớn trong dài hạn” như nhiều quốc gia khác. Lí do khá đơn giản: thứ nhất, về dài hạn thì lợi ích của các tài nguyên này cho Trung Quốc sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra ban đầu; thứ hai, các khoản thuế ưu đãi được ghi trong các hợp đồng với Congo sẽ khiến các khoản thuế ưu đãi chảy vào túi của các doanh nghiệp liên doanh (mà Trung Quốc nắm phần lớn vốn); và cuối cùng, Trung Quốc đóng vai trò ở tất cả các khâu, từ người cho vay, người bán cho đến khách hàng, và do đó họ sẽ khống chế được phần định giá để có thể mua những tài nguyên này với giá rẻ mạt. Điều đáng buồn là những công trình cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc hứa hẹn như là một phần trong các “thỏa thuận hợp tác” lại không hề phát huy tác dụng như kì vọng. Đầu tư cơ sở hạ tầng làm gì nếu như không đào tạo những người có đủ năng lực tiếp quản và sử dụng chúng cơ chứ?
  • Turmenistan, Kazakhstan, Sudan, Iran, Angola Venezuela có gì mà Trung Quốc thèm muốn? Đó là “vàng đen” – dầu mỏ. Các quốc gia này đều mang những đặc điểm chung: dự trữ dầu mỏ lớn, bị cấm vận bởi Mĩ và phương Tây và mức độ tham nhũng cao. Đặc điểm thứ nhất là lí do chính mà các công ti Trung Quốc tìm đến những quốc gia này: nguồn cung cấp dầu mỏ dài hạn cho sự phát triển của Trung Quốc. Đặc điểm thứ hai tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc tiếp cận và lấp đầy những khoảng trống mà các công ti phương Tây để lại và nó cũng mang lại lợi thế trở thành “lựa chọn duy nhất” cho Trung Quốc. Đặc điểm thứ ba được Trung Quốc sử dụng như là cách thức vận hành và được thừa nhận ngay trong các bảng cân đối kế toán của các công ti Trung Quốc. Việc mua bán dầu mỏ với Trung Quốc không chỉ mang lại nguồn lợi tài chính mà cả về quân sự cho Sudan. Còn đối với Iran thì lợi thế về quan hệ chính trị cũng như sức mạnh tài chính đã bù đắp những thiếu sót, yếu kém trong công nghệ khai thác và chế biến dầu mỏ của Trung Quốc. Tại Angola, Trung Quốc đã phá hỏng những kế hoạch và nỗ lực của các tổ chức tín dụng quốc tế nhằm gây ra áp lực buộc quốc gia này phải cải tổ để có thể tiếp cận các khoản vốn vay bằng những “tờ séc quyền lực” của mình. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Trung Quốc đang tạo thêm nợ chứ không hề có ý cải thiện bất cứ điều gì cho quốc gia này. Các cơ sở hạ tầng được xây dựng một cách chậm chạp và không có chút tiến triển gì nhiều năm liền trong khi dầu mỏ vẫn được xuất khẩu đều đặn sang Trung Quốc để trả nợ (mà nợ cái gì ấy nhỉ?). Venezuela lại là một ví dụ cực đoạn khác do những lệnh trừng phạt của Mĩ và phương Tây, những chính sách này khiến cho Trung Quốc trở thành “hàng xóm tốt bụng” của đất nước được mô tả là “lắm tiền, nhiều tài nguyên nhưng dễ dụ” này.
Advertisements

[Book]Ngôn ngữ của Chúa – Francis S.Collins

Thông tin sách

Tên sách: Ngôn ngữ của Chúa

Tác giả: Francis S.Collins

Dịch giả: Lê Thị Thanh Thủy

Hiệu đính: Nguyễn Cảnh Bình

Số trang: 350

Quyết định xuất bản số 501/QĐ-ThG cấp ngày 07/05/2018


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Mở đầu sách bằng câu chuyện chuyển từ một người tôn sùng chủ nghĩa vô thần sang một người có đức tin của chính tác giả. Và một trong những nhà tư tưởng đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của Collins trong quá trình này là C. S. Lewis (mà ta sẽ thấy rằng trong những phần sau của tác phẩm, Collins thường trích dẫn Lewis cho nhiều vấn đề nan giải).

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại của Chúa, và Collin đã giải thích cho người đọc rằng Người là có thực bởi 4 lí do sau đây:

  • Chúa không phải là ảo tưởng vì có một nơi trong tâm trí của chúng ta bị “thiếu”, như sự khao khát mãnh liệt về một điều gì đó mới mẻ, và nó sẽ (cà cần) được lấp đầy bởi hình tượng Chúa.
  • Bản thân tôn giáo là tốt nhưng những người thực hiện là chưa tốt, do đó ta không nên phê phán tôn giáo. Về vấn đề này, tôi có một thắc mắc: ví dụ về CNXH ở Nga và Trung Quốc thì có khác gì đâu, tại sao tác giả lại chú ý về tính vôn thần của nó và qui kết thất bại của CNXH ở hai quốc gia này cho nó?
  • Không phải Chúa không yêu thương con người mà là do con người tự gây ra cho nhau những đau khổ và việc can thiệt tự do ý chí của con người sẽ dẫn đến hỗn loạn trật tự vũ trụ (giống việc Flash cứu mẹ nhỉ 🙂 ). Và những trải nghiệm đau  khổ sẽ giúp con người tìm ra và cảm nhận những điều đối lập tích cực hơn.
  • Điều kì diệu (điều kì diệu thực sự, không phải những thứ tầm thường được phóng đại lên) là một trong các biểu hiện cho sự tồn tại của Chúa.

Phần tiếp theo tác giả đã đi ngược tiến trình tiến hóa để lí giải sự hình thành sự sống và sự tồn tại của loài người. Bắt đầu bằng việc vũ trụ được hình thành có vẻ không chỉ đơn giản là do ngẫu nhiên. Có nhiều bằng chứng củng cố cho Thuyết Big Bang cũng như những lập luận chỉ ra những điều không thể lí giải được bởi Thuyết này. Tác giả đã chỉ ra ba kịch bản có thể cho các trường hợp này.

Trước hết, yếu tố “tình cờ” đã hình thành sự sống trong một vũ trụ độc nhất, là vũ trụ mà chúng ta đang sống. Tác giả cho rằng điều này là khó có thể xảy ra nhất và do đó, loại bỏ nó. Một lập luận khác về “đa vũ trụ” có thể gia tăng khả năng xảy ra điều này thì vẫn khiến tác giả khó tin vào sự may mắn của nhân loại khi được xuất hiện và tồn tại trong vũ trụ này (ông vẫn để ngỏ khả năng này). Cuối cùng, sự xuất hiện của Chúa có vẻ sẽ giải quyết những câu hỏi về sự khởi nguyên của vũ trụ tốt hơn cả. Mặc dù những kiến thức khoa học gần đây đã bác bỏ Thuyết quyết định khoa học (việc này thường xảy ra trong lịch sử phát triển của khoa học), giả định rằng Chúa đã thực sự hiện diện trong lịch sử hình thành và phát triển vốn cũng mong manh không kém, theo ý kiến của tôi. Nếu một người nào đó, bằng một cách ngẫu nhiên nào đó, nó rằng giá xăng sẽ tăng và quả thực giá xăng ngày mai tăng thì điều đó có chứng minh rằng người đó có khả năng tiên tri hay không? Tôi nghi ngờ điều này!

Đi sâu hơn vào nguồn gốc của sự sống trên Trái Đất tác giả chỉ cho ta thấy rằng sự vận hành của tự nhiên quá tức tạp đến mức đáng ngờ (rằng chọn lọc tự nhiên khó mà có thể tạo ra những gì phức tạp và tinh tế đến vậy!?). Những phát kiến của sinh học sau này đã giải quyết vấn đề trên: ADN, ARN và protein. Quá trình ARN thông tin được sao chép từ một ADN (nếu ví ADN là một cái thang được dựng lên từ các tổ hợp của hai cặp bazo A-T và G-C thì ARN chỉ là một nửa bên của cái thang này) chuyển những thông tin này sang một protein nhất định đã góp phần lí giải cho những lí luận trước đó về nguồn gốc các loài của Darwin và Wallace hay những thí nghiệm về di truyền của Mendel và Garold. Như vậy, tiến hóa là một cơ chế. Và vậy thì, vai trò của Chúa ở đây là gì?

Lần ngược tiến trình giải mã gen người của nhân loại ta thấy sự khó khăn của hơn 2000 nhà khoa học hàng đầu làm việc tại 6 trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới ròng rã hơn 10 năm. Thật may mắn khi họ quyết định công bố những thông tin này cho mọi người miễn phí (mặc dù vậy, tôi vẫn nghĩ việc Celera của Venter tham gia vào quá trình giải mã gen với tuyên bố sẽ đăng kí sở hữu tư nhân những thông tin sau khi giải mã đã thúc đẩy tiến trình này). Sau khi giải mã thành công bộ gen người, nhiều phát hiện mới khi những nhà nghiên cứu cố gắng đọc bản “hướng dẫn cho loài người” này:

  • Ở cấp độ ADN, ta thấy có những tương đồng đáng kể giữa những cá thể người cũng như giữa con người với các loài khác. Điều này đã ủng hộ Thuyết tiến hóa trên cơ sở chọn lọc tự nhiên của Darwin.
  • Khi so sánh trình tự ADN của con người với các sinh vật khác, ta cũng thấy có sự tương đồng rất cao. Những khác biệt ở mức độ vi mô đã dần tích lũy và gây ra tiến hóa ở cấp độ vĩ mô.

Điều này có ý nghĩa gì đối với việc giải thích về loài người? Chúng ta khác biệt. Và những khác biệt giữa ta và các loài khác (cho dù có tổ tiên gần gũi như thế nào) là do phát triển để phục vụ những mục đích khác nhau. Với tác giả, những điều này không loại trừ Chúa mà ở đây cũng như chỉ là cách Chúa vận hành thế giới này. Tôi đồng ý điều thứ nhất, còn điều thứ hai thì…

Phần tiếp theo tác giả đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về sự tồn tại của loài người dựa vào các góc nhìn khác nhau:

  1. Chủ nghĩa vô thần: Có vẻ như tác giả không thích chủ nghĩa vô thần khi họ sử dụng Thuyết tiến hóa để bác bỏ sự tồn tại của Chúa. Viện dẫn McGrath, tác giả đã chỉ ra những bất hợp lí trong ba lập luận sau đây của Dawkins:
  • Thuyết tiến hóa chỉ là giảm tác động của Chúa đối với sự phát triển của các loài.
  • Tôn giáo không phải là tin vào những gì không phải mà đó là những gì có thể.
  • Hậu quả của những việc làm nhân danh tôn giáo là do những kẻ thực hiện.

Bên cạnh đó Gould cũng chỉ trích Dawkins rằng khoa học không thể chứng tỏ sự tồn tại của Chúa vì Chúa đã vượt ngoài thực tế hiểu biết của loài người. Cá nhân tôi thì thấy cả những lập luận và phản lập luận đề cũng không ý nghĩa nhiều lắm!!

  1. Thuyết bất khả tri: Thuật ngữ “bất khả tri” do Huxley đề xướng nhưng bị nhiều người hiểu lầm và sử dụng sai. Nói nôm na thì ta chỉ có thể nói một con dao là vô dụng khi không thể sử dụng nó bằng mọi cách (cho nhiều mục đích khác nhau) nếu ta đã thử hết thảy thay vì là võ đoán dựa vào hình dáng của nó. Vì “không có khả năng thấu hiểu” nên nó dường như cũng khó mà hiểu được Chúa!
  2. Sáng tạo luận: theo tác giả, Sáng tạo luận rõ ràng là đã bị những người sáng tạo và theo nó làm cho tan rã và sụp đổ. Lí do đơn giản là họ đã gán góc nhìn của những người viết về sách Sáng thế (như thánh Augustine) cách nhìn nhận thế giới hiện đại của họ. Càng tìm cách chối bỏ các bằng chứng khoa học (mà ngày càng được tìm thấy nhiều hơn), họ lại càng tạo ra một nền tảng sai lầm hơn, do đó khiến thế hệ trẻ chối bỏ nó. Theo tác giả, họ nên cởi mở trước mọi tia sáng dù đó là xuất phát từ khoa học hay đó là ánh sáng thần thánh. Hay hai nguồn sáng này chiếu song song!?
  3. Thiết kế thông minh: Khi khoa học cần sự trợ giúp của Thần học để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc giải thích sự sống xuất hiện trên Trái đất này, Thiết kế thông minh ra đời. Ba định đề của thuyết này là:
    • Là lí thuyết khoa học nhưng nó không dựa vào khoa học mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ trước những quản điểm thực dụng vô thần như Johnson khao khát.
    • Nó không giải thích được sự phức tạp của tự nhiên một cách hoàn thiện. Thay vào đó, Behe đã lập luận rằng cơ sở chọn lọc tự nhiên không thể tạo ra những cỗ máy sống phức tạp như vậy được.
    • Và do đó, Chúa sẽ là người can thiệp.

Tuy nhiên, Thiết kế thông minh đã kết thúc sứ mạng của mình chỉ sau 15 năm tồn tại và phát triển:

  • Đầu tiên, Thiết kế thông minh chỉ lí giải những gì đã xảy ra mà không dự đoán được những phát hiện khác và gợi ý các cách tiếp cận khác mang tính thực nghiệm nên nó không thể là một thuyết khoa học thực sự.
  • Tiếp theo, sự phức tạp của những cỗ máy sống dần được khoa học nghiên cứu và khám phá ra là “không phải là không thể được”. Behe có nói rằng các sinh viên nguyên thủy đã chứa tất cả những gì cần thiết và cho đến một thời điểm nào đó sẽ được kích hoạt khi cần thiết. Điều này sau đó đã được chứng minh qua 3 ví dụ rõ ràng sau đây: (i) hiện tượng huyết khối – luôn có một hình thái trung gian trong sự phát triển; (ii) cấu tạo con mắt – các “thiết kế của Chúa” có vẻ không thực sự hoàn hảo và (iii) vi trùng roi – các chức năng của sinh vật luôn có một vai trò nào đó chứ không phải không hoàn toàn hữu ích (khi so sánh các loài gần nhau cho thấy giả định rằng không thể có chức năng hữu ích nào trước đó do qui trình chọn lọc tự nhiên chi phối vì những phần phức tạp không thể giản lược được là không đúng).
  • Và cuối cùng, về mặt thần học thì Thiết kế thông minh cho thấy hình ảnh của một đức Chúa vụng về cho nên nó cũng không được những người theo Chúa đón nhận.
  1. Kết hợp giữa khoa học và tôn giáo, tác giả đã đề xuất một giải pháp khác – Biologos – biến thể theo Thuyết tiến hóa hữu thần. Biến thể này gồm 6 định đề và nếu chấp nhận tất cả thì ta sẽ có Chúa. Tác giả đưa ra nhiều giải thích cho việc mọi người không biết đến học thuyết này như không có nhiều người nổi tiếng ủng hộ, không có nhiều người hiểu rõ nội dung của học thuyết, do tên gọi gây nhầm lẫn, vì nó đề nghị sự hòa hợp mà con người lại thích xung đột và nhiều người tin vào Chúa lại thấy thuyết này cho rằng Chúa làm việc một cách ngẫu nhiên.

Tóm lại, ta không nên áp dụng những giới hạn của con người cho Chúa vì Chúa vượt ra ngoài giới hạn những gì con người đã biết và sẽ biết. Ngay cả Kinh Thánh cũng nên được hiểu một cách hình tượng hóa, không nên theo sát nghĩa đen mà suy luận ra. Tác giả cho rằng lựa chọn về bên nào cũng nguy hiểm vì sự sáng tạo của con người là kì diệu và con người không có khả năng nắm bắt được điều đó.

Cá nhân tôi đánh giá không cao nội dung cuốn sách này vì những lập luận thiếu vững chắc và mang nặng tính chủ quan của tác giả. Ngoài việc cung cấp cấp những thông tin bổ ích và kiến thức về những tiến bộ của ngành sinh-hóa hiện đại thì phần còn lại không có gì thú vị.
Điểm đánh giá: 2/5

[Book]Miền đất hứa của tôi – Ari Shavit

Thông tin sách

Tên sách: Miền đất hứa của tôi

Tác giả: Ari Shavit

Dịch giả: Kiều Thị Thu Hương

Hiệu đính: Võ Minh Tuấn

Số trang: 553

Quyết định xuất bản số 1327/QĐ-ThG cấp ngày 26/12/2017


Tóm tắt và cảm nhận cá nhân

Là câu chuyện về đất nước của chính tác giả, Israel, theo tiến trình thời gian – bắt đầu từ năm 1897 cho đến năm 2013. Miền đất hứa của tôi của Ari Shavit đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quan, sơ lược về sự hình thành của nhà nước Do Thái Israel, những khó khăn và thách thức tồn tại của nó trong thế kỉ này.

Bắt đầu bằng việc tác giả “theo chân” của người cụ Herbert Bentwich từ Anh trở về Đất Israel. Quá khứ và hiện tại xen kẽ lẫn nhau qua lời kể của Ari Shavit khi đi lại con đường mà cụ Herbert Bentwich đã đi, những điều trông thấy, những cảm xúc dâng trào như thể chính tác giả đã ở đó, đã cùng với cụ của mình chứng kiến mảnh đất mà sau này sẽ trở thành nhà nước Do Thái Israel. Những cảm nhận chủ quan của tác giả và những cảm xúc của người đi trước (cũng do tác giả tưởng tượng) không hẳn là giống nhau, nhưng họ có chung một cảm giác về một kỉ nguyên mới cho những người Do Thái ở vùng đất này.

Chuyến đi tiếp theo của tác giả đưa ta quay trở lại thung lũng Harod vào tháng 09/1921, chứng kiến những thanh niên Do Thái tiên phong xây dựng công xã Ein Harod. Mặc dù chủ nghĩa Zion phi xã hội chủ nghĩa đã thất bại trong công cuộc thuộc địa hóa Palestine nhưng chủ nghĩa xã hội kiểu công xã vẫn cần thiết cho người Do Thái để thiết lập cộng đồng Do Thái. Thời gian ban đầu hoạt động của công xã gặp rất nhiều khó khăn, đôi lúc họ cảm thấy như bế tắc. Song, khi Yitzhak Tabenkin tham gia Ein Harod vào 12/1921, đường hướng của công xã đã những bước chuyển biến đáng kể. Đường lối lãnh đạo của ông được mô tả là Bolshevik về phong cách và quan điểm chính trị là chiến đấu. Là một người theo chủ nghĩa tích cực, ông đòi hỏi rất cao trong việc sớm biến thung lũng Harod trở thành của người Do Thái. Dưới sự lãnh đạo của ông, công xã đã đón nhận những trái ngọt đầu tiên vào mùa hè 1922.

Những năm 1935 – 1936 là giai đoạn tồi tệ đối với những người Do Thái ở Châu Âu. Họ bị đàn áp, bị đánh đuổi và bị tàn sát trên qui mô lớn. Tuy vậy, cuộc sống ở thuộc địa Rehovot dường như không có chút liên quan gì đối với những biến động ở Châu Âu. Sự phát triển của những vườn cam Jaffa mang lại hi vọng cho những người Do Thái trồng cam nơi đây về một tương lai sung túc và yên bình. Bức tranh nửa sáng nửa tối này được khắc họa bằng việc khi thì đưa người đọc trở về vườn cam đặc biệt của một người Do Thái, lúc thì lại trình bày những diễn biến của phong trào phục quốc Zion của những người Do Thái khác mà tiêu biểu là Al-Kassam. Cuộc nổi dậy của Al-Kassam nhanh chóng bị dập tắt nhưng đó chỉ là khởi đầu cho những cuộc kháng chiến tiếp theo sau này. Trong khi đó, có vẻ mọi thứ vẫn đang cân bằng và đi đúng hướng tại Rehovot.

Quãng thời gian tiếp theo chứng kiến những xung đột đẫm máu của người Do Thái với người Ả Rập, từ những cuộc tấn công nhỏ lẻ đã bùng phát thành những cuộc tấn công vũ trang có qui mô lớn hơn, và nó được đưa lên đỉnh điểm bởi hành động diệt chủng Do Thái của Đức Quốc Xã. Thực tế tàn khốc này đã thay đổi chủ nghĩa Zion đến tận gốc rễ, từ việc muốn tăng trưởng hữu cơ lâu dài thành việc đấu tranh và chấp nhận mất mát. Trong quãng thời gian này, pháo đài Masada đã dần trở thành biểu tượng mới cho dân tộc Do Thái thông qua những nỗ lực bền bỉ của Gutman, người truyền lửa cho thế hệ trẻ Do Thái thời kì này. Masada, từ chỗ là một huyền thoại bi kịch, đã trở thành đặc tính cho chủ nghĩa Zion và nó góp phần định hình cho tính cách của nhà nước Israel được thành lập sau này. Tuy nhiên, cuộc thảm sát 3 ngày ở Lydda vào tháng 07/1948 có lẽ là sự kiện đáng quên nhất của Gutman cũng như những người tham gia khác. Nó là bằng chứng trực quan đầy khốc liệt cho cái được gọi là “sự đánh đổi” đầy tính cực đoan. Mâu thuẫn sâu sắc giữa người Ả Rập và người Do Thái khiến cho họ không thể cùng chung sống với nhau, điều này bắt buộc chủ nghĩa Zion phải đưa ra lựa chọn: hoặc là một nhà nước Do Thái, hoặc là không gì cả. Và cuối cùng, như chúng ta đã biết, Israel ra đời.

Những năm tiếp theo là thời gian những lãnh đạo của Israel định hình và củng cố lại nhà nước non trẻ mới thành lập này. Đầu tiên và việc những người Israel tị nạn từ nhiều nơi trên thế giới trở về “miền đất hứa” của họ. Những người này, dù đã trải qua những tháng ngày bị săn lùng, sống chui lủi, bị sỉ nhục, bị mất phẩm giá tương tự nhau nhưng lại không có chung cảm nhận với cuộc sống  ở Israel. Có người thì quá lạc quan, có người thì vẫn còn những hoài nghi, trong khi những người khác thì vẫn còn mải lo toan với cuộc sống mới. Dẫu vậy, theo tác giả, họ vẫn nên hướng tới những điều tốt đẹp hơn bằng cách rũ bỏ quá khứ lại ở phía sau.

Bên cạnh vấn đề nhập cư thì đảm bảo an ninh quốc gia cũng là một vấn đề bức thiết của Israel. Và đó là lí do chính phủ Israel lựa chọn việc xây dựng lò phản ứng hạt nhân Dimona như là một tấm khiên vô hình che chở cho cộng đồng Do Thái xung quanh các quốc gia Ả Rập ở Trung Đông. Quá trình xây dựng được tác giả ghi lại qua lời kể của một kĩ sư – người nắm giữ một vai trò khá quan trọng trong công việc này. Họ, những người tham gia xây dựng Dimona, đã làm việc với một nhận thức mơ hồ nhưng đầy nhiệt huyết và hi vọng đây sẽ là thứ đảm bảo cho tương lai của Israel.

Không chỉ được đảm bảo, với sức mạnh quân sự vượt trội của mình, Israel còn có thể dễ dàng giành chiến thắng trước trước những cuộc tấn công của liên quân Ả Rập nhắm vào mình. Họ không chỉ bảo vệ được đường biên giới quốc gia của mình mà còn mở rộng ra bằng những khu định cư bất hợp pháp và Ofra là một nơi như thế. Sau hai cuộc chiến tranh liên tiếp, vào năm 1967 và 1973, Israel đã rơi vào khủng hoảng nội bộ, người dân mất niềm tin vào chính quyền hiện tại. Vào lúc này, một nhóm các nhà lãnh đạo trẻ của phong trào Gush Emunim, tự phát và hoạt động độc lập với nhau, đã cùng nhìn thấy giải pháp ở Ofra. Bằng nhiều thủ đoạn, cuối cùng khu định cư Ofra được thành lập và kéo theo đó là tham vọng về một vương quốc Israel. Song, những tư tưởng cực đoan này đã (may mắn) được ngăn chặn kịp thời. Vai trò lịch sử của Ofra chấm dứt, giờ đây nó chỉ là một biểu tượng của một niềm tin mong manh.

Sự chiếm đóng có lẽ là một trong những quyết định tồi tệ nhất của Israel. Niềm tin và chế độ không phải lúc nào cũng đều nhìn về cùng một hướng, và tại Gaza tác giả đã được trải nghiệm điều đó trong thời gian nhập ngũ ở nơi đây. Dù cho đã có những nỗ lực để biện minh cho hành động của Israel tại dải  Gaza, nhưng điều đó vẫn không đủ. Đơn giản là vì “cái ác” tự vận hành ở nơi đây vốn dĩ không được chấp nhận. Những day dứt vẫn còn đó,  dù Israel đã trao trả dải Gaza lại cho Palestine, nó vẫn ở trong tâm trí của  người dân ở cả hai quốc gia. Nó không biến mất, nó chỉ  chuyển thành dạng khác mà thôi. Và những người Israel yêu hòa bình đã cố gắng đi tìm lời giải đáp bằng những phong trào hòa bình năm 1993. Họ đã nhìn thấy sự sai trái của việc chiếm đóng cũng như định cư bất hợp pháp, họ mong muốn có được hòa bình với Palestine và các nước Ả Rập. Những cố gắng của họ đã hé mở những hi vọng nhỏ (Hiệp định Oslo), nhưng thực tế là hòa bình không phải là kết quả của những thỏa thuận khi mà sự chiếm đóng vẫn còn đó.

Không chỉ có mối nguy từ bên ngoài, Israel còn phải đối diện với những hiểm họa từ chính bên trong nó. Xung đột sắc tộc giữa người Do Thái Phương Đông và người Israel Zion là một hiểm họa như thế. Có một luận điểm quan trọng, nhà nước Israel được thành lập vốn là dành cho người Do Thái ở Đông Âu (và đáng buồn là họ đã bị thảm sát trong chiến tranh Thế giới lần II đến mức không còn lại bao nhiêu) không phải dành cho những cư dân phương Đông này. Sự phân biệt này sẽ còn kéo dài vì căn cơ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Ari Shavit cũng nhận ra điều này, và ông chỉ đơn giản là ghi nhận lại sự xấu xí này của Israel. Ảnh hưởng của ma túy đối với thế hệ trẻ Do Thái cũng là một vấn đề đáng lưu tâm. Đối với những người trẻ này, họ không  quan tâm gì nhiều đến vận mệnh của đất nước. Thứ mà họ quan tâm là sự giải thoát, là tự do, là phá bỏ mọi sự cấm kị mà những người đi trước đặt ra và ma túy sẽ giúp họ cảm nhận được tất cả. Tâng lớp trí thức phi Do Thái ở Israel cũng đặt ra cho nhà nước này một thách thức khác. Kết thúc chuyến đi đến Galilee của tác giả với người bạn thân Dahla là một loạt các câu hỏi tự vấn. Bản thân Ari Shavit cũng cảm thấy bối rối trước những quan điểm của Dahla về giải pháp hai nhà nước độc lập, Palestine và Israel, là không phù hợp vì sự phức tạp trong cộng đồng dân cư hiện tại. Thay vào đó, Dahla hướng tới phong trào một nhà nước hai dân tộc với các quyền được đảm bảo cho người Palestine.

Trong khi những mối nguy ở trên vẫn âm ỉ thì chiến tranh Labanon năm 2006 đã giáng xuống Israel một đòn chí mạng khác. Israel đã chống trả thành công trước quân Hezbollah nhưng nó lại phát hiện ra một thực tại đáng buồn ở Israel: chia rẽ và ích kỉ. Tầng lớp chính trị thì ảo tưởng về tính đúng đắn của thể chế và coi thường thực tại. Giới thượng lưu lại chìm đắm trong những cuộc vui bất tận. Trong khi đó, tầng lớp trung lưu và bình dân là rõ hơn hết nhưng lại bất lực. Sự chia rẽ được khắc họa rõ hơn với một bên là hình ảnh những binh sĩ trẻ đang phải chiến đấu để bảo vệ sự sống còn cho quốc gia còn bên kia là những người trẻ khác đang tụ tập tiệc tùng. Nhưng không như những qui ước bất thành văn của thời đại trước, những người thích dự tiệc này không hề quan tâm những gì đang xảy ra trên chiến trường.

Bên cạnh đó, quốc gia khởi nghiệp Israel có lẽ đã thành công trong việc phát triển kinh tế nhưng ở một góc nhìn khác, Israel đang mất dần đi bản sắc, thiếu sức sống dân tộc và tinh thần đã làm nên quốc gia diệu kì của những năm 50, 60 của thế kỉ 20. Cuộc biểu tình ở Rothschild năm 2011 lại mang đến cho tác giả một hi vọng về một cuộc tái thiết dân chủ mới. Theo tác giả, sau một thời gian dài rệu rạo và thụ động, Israel cần tự làm mới mình. Hơn thế nữa, Israel vẫn chưa thực sự được bình yên. Những ngày tháng an vui của người dân Israel luôn có bóng dáng của những người chiến binh thầm lặng như Amos Yadlin. Những lo lắng của Yadlin cũng như của tác giả có thể chỉ là sự thái quá, nhưng sự thực là những quốc gia Ả Rập chưa bao giờ thoải mái với quốc gia láng giềng của họ từ những ngày đầu lập quốc cho đến bây giờ. Mối đe dọa từ Iran, theo tác giả và Yadlin, là có thực và cũng là nguy hiểm nhất đối với tồn vong của Israel. Yadlin là một người thoe học thuyết Begin tích cực, và ông cho rằng cần phải chặn đứng mối nguy đối với Israel trước khi  nó trở thành sự thực (ông đã 2 lần thành công trước Iraq vào năm 1981 và trước Syria vào năm 2007). Nhưng Iran lại khôn ngoan hơn rất nhiều, và liệu uy quyền của Israel tại khu vực này kéo dài được bao lâu nữa?

Kết thúc Miền đất hứa của tôi, Ari Shavit đã tổng hợp lại bảy thách thức tồn tại cho Israel trong thời đại mới, đó là Hồi giáo, Ả Rập, Palestine, nội bộ, tinh thần, đạo đức và bản sắc của Israel. Trong khi các yếu tố bên ngoài ngày càng mạnh lên thì các yếu tố bên trong ngày càng kém đi – những vòng kim cô này đang siết chặt Israel từng ngày. Những thực tại mới xuất hiện, Trung Đông Mới và Chính Trị Mới, mang đến cho Israel những thách thức và cơ hội mới. Trung Đông Mới tiềm ẩn rủi ro từ những nhà lãnh đạo Ả Rập cực đoan khiến cho Israel có thể rơi vào hỗn loạn một khi những lợi thế về sức mạnh quân sự và công nghệ của Israel  không còn. Trong khi đó, Chính Trị Mới lại mang màu sắc tích cực hơn về một Israel quyết tâm tự cải tổ bằng những cải cách chính phủ và thúc đẩy kinh tế thị trường công bằng hơn. Tóm lại, Israel vẫn sẽ ở vùng đất kinh thánh này và tiếp tục sống bất chấp tất cả.

Điểm đánh giá: 3,5/5

[08/04/2018]Đánh giá hạnh phúc?

Bài viết dẫn đọc: Chỉ số hạnh phúc thế giới 2012 – 2017

Chú ý: Bài viết trên chỉ là thông tin tôi dẫn để mọi người tham khảo, không phải nội dung tôi sử dụng/tham khảo để viết bài này.


Vấn đề xuất phát

Tại sao chúng ta lại đánh giá hạnh phúc của người khác thay cho họ?

Liệu việc biết thêm thông tin về thu nhập của hàng xóm khiến ta đánh giá thấp cảm giác thỏa mãn của bản thân so với trước đó có là điều đúng đắn hay không?

Việc chúng ta “thích nghi” với hoàn cảnh hiện tại và “chấp nhận” hay “an phận” có phải là điều không tốt?


Ý kiến cá nhân

Tôi không nghĩ bất cứ ai có quyền đánh giá hay cảm nhận hạnh phúc thay cho chính chúng ta. Cảm nhận của mỗi người là riêng biệt bởi vì không ai giống ai cả. Mỗi người có một hệ thống niềm tin, quan điểm về giá trị cũng như thái độ đạo đức khác nhau mà nếu đem tất cả đặt lên một bàn cân thì thật khập khiễng. Nó giống như việc ông Tây nói ông Việt Nam rằng ăn thịt chó là vô nhân đạo vậy, bởi vì chuyện đó không có gì là ghê gớm ở Việt Nam cả (dĩ nhiên, ngày càng có nhiều người ít ăn thịt chó và họ thường phê phán những người thích ăn thịt chó, nhưng vào những năm trước đây (và nếu cần thì có thể tìm hiểu thêm về lịch sử Việt Nam cũng được) thì việc ăn thịt chó khá phổ biến và có khi còn nhiều hơn cả ăn thịt bò ấy chứ). Môi trường sống khác nhau khiến chúng ta có những quan niệm về hạnh phúc khác nhau, bạn có hài lòng giống như tôi hay không? Tôi nghĩ là không.

Biết thêm thông tin giúp chúng ta có cái nhìn tốt hơn cũng như đánh giá nhiều mặt của một vấn đề hơn. Về mặt này thì tôi đồng ý. Vấn đề ở đây là, cho dù chúng ta được cung cấp thông tin tốt đến thế nào, thì việc đánh giá của mỗi người cũng không nên chịu ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Bạn được cung cấp thông tin thu nhập của những người dân ở các nước láng giềng và một người nói cho bạn rằng thu nhập phản ánh được chất lượng cuộc sống của công dân ở một quốc gia – thu nhập càng cao thì chất lượng cuộc sống càng tốt. Khi bạn nhìn vào bảng kê khai thuế Thu nhập cá nhân của mình, có lẽ bạn sẽ có chút khó chịu khi so sánh với thu nhập của một anh bạn nào đó bên Thái Lan. Ồ, và bạn cảm thấy một chút hụt hẫng, tức giận vì chất lượng cuộc sống của mình đang “quá thấp” so với họ. Mà gượm đã, trước đây vài giây bạn vẫn cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình cơ mà!? Thông tin trên đã khiến bạn đánh giá lại cảm giác của mình dựa trên cuộc sống của người khác.  Tôi không có ý nói rằng ta cứ tự ám thị rằng mình là người hạnh phúc thì mình sẽ cảm thấy hạnh phúc, rằng nhà cầm quyền nên làm công tác tư tưởng để những người dân khốn khổ của họ cảm thấy hài lòng với những gì đang có và khiến họ vỡ mộng là một cái tát trời giáng phi nhân tính. Ý của tôi là, chỉ những thông tin riêng lẻ như trên thì có đủ để đánh giá toàn diện về chất lượng cuộc sống của một người hay không. Tôi sẽ hoài nghi về một chỉ số, thậm chí là một hệ thống các chỉ số phức tạp hơn, có thể đo lường được điều đó. Một người Nhật chi tiêu khoảng 40,000 JPY cho ăn uống mỗi tháng (tương đương 8.38 triệu VNĐ) có cảm thấy tốt hơn so với tôi, với mức chi tiêu cho ăn uống chỉ khoảng 3 triệu VNĐ. Theo tôi được biết thì một trái chuối bình thường ở Nhật có giá khoảng 20,000 VNĐ và giá một bữa ăn trưa của một nhân viên văn phòng (theo khảo sát của Nikkan Spa, năm 2016) là khoảng 105,000 VNĐ, trong khi đó thì tôi tốn khoảng 25,000 VNĐ để có được một bữa trưa văn phòng có chuối dùng làm tráng miệng. Và tôi cũng là một nhân viên văn phòng bình thường. Nhưng tôi biết rằng anh bạn người Nhật kia sẽ làm việc năng suất hơn tôi nhiều, và áp lực công việc cũng cao hơn tôi nữa cho nên theo tôi (võ đoán) thì có lẽ tôi sẽ “hài lòng” với công việc hiện tại hơn. Tóm lại thì để đưa ra một đánh giá nào đó, ta nên có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề mà ta đối mặt bằng cách thu thập thêm thông tin, tham khảo ý kiến của những người biết nhiều hơn về vấn đề đó và nhất là có thái độ hoài nghi về những gì ta thu thập được (bạn cũng nên tìm hiểu những thông tin mà tôi nêu ra ở trên để thể hiện thái độ hoài nghi của bản thân đi, đừng tin vào tôi!).

Vấn đề cuối cùng mà tôi đề cập đến đến từ việc tôi chợt nghĩ đến một cuốn sách viết về các hành vi phi lý trí của cá nhân khi đối diện với các vấn đề kinh tế. Một lần nữa, “an phận” hay “chấp nhận”, theo tôi, không có nghĩa là chấp nhận hiện trạng và không muốn thay đổi, thậm chí là chống lại sự thay đổi để tốt hơn (tôi đã để những cụm từ này trong ngoặc kép nhằm nhấn mạnh rằng nó không có nghĩa mà mọi người thường nghĩ, lý do là tôi không tìm được từ nào để diễn tả suy nghĩ của mình lúc đó). Với mức thu nhập hiện tại thì tôi cảm thấy “chấp nhận” được, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ duy trì như vậy cho đến mãi sau này, không cần cố gắng thêm và chỉ việc hưởng thụ tất cả những tiện ích đang có. Tôi chấp nhận điều này là vì mức lương hiện tại giúp tôi trang trải tốt các chi phí sinh hoạt hàng ngày, tôi vẫn có các khoản mục cho bảo hiểm, giao lưu với bạn bè, mua một vài quyển sách để đọc lúc rảnh rỗi hoặc lên kế hoạch để mua một chiếc laptop mới vào cuối năm. Có thể bạn nghĩ rằng thu nhập của tôi cao nên tôi mới nói như vậy, nhưng mà thực sự thì thu nhập của tôi cũng chỉ vừa đến mức đóng thuế Thu nhập cá nhân thôi (tôi sẽ vui mừng biết bao nếu có thể đóng nhiều hơn thế :(, buồn thay!). Vậy tại sao tôi lại bằng lòng với những gì đang có? Tôi không chắc lắm, nhưng có lẽ nó cũng phản ánh khá tốt những đóng góp của tôi cho xã hội. Những đồng nghiệp của tôi có mức lương ấn tượng hơn nhiều, bởi vì họ làm nhiều hơn và “quan hệ” tốt hơn tôi. Tôi không có ý nói xấu họ đâu, thực tế thì xã hội này vận hành dựa trên rất nhiều mối quan hệ phức tạp như vậy. Cho dù họ đang “nhận” được nhiều hơn những gì họ đóng góp “cho” xã hội thì cũng chẳng liên quan gì đến cảm nhận của tôi lắm, vì những gì tôi làm được cũng chả thay đổi nhiều. Vậy thì tại sao tôi phải bớt “chấp nhận” nhỉ!? Tôi vẫn được làm những việc mà mình ưa thích, đọc sách và suy ngẫm trong những khoảng thời gian rảnh rỗi, trải nghiệm những chuyến đi chơi xa và hơn nữa tôi vẫn có kế hoạch tài chính cho bản thân và gia đình sau này. Tôi không “an phận” mà là tôi biết bằng lòng với những gì đang có, hưởng thụ từng khoảnh khắc vào lúc này và cố gắng cho tương lai. Tôi không nhìn vào người khác để đánh giá mình, việc đó không cần thiết mặc dù tôi có thể tham khảo nhiều điều tự họ, mà tôi sẽ so sánh bản thân mình ngày hôm nay với ngày hôm qua. Theo tôi thì đi nhanh cũng tốt đấy, nhưng chỉ cần tiến lên được và đúng hướng cũng đủ tốt rồi.

Hi vọng là mọi người đều hạnh phúc theo cách của riêng mình, ha ha!