[Book]Ngôn ngữ của Chúa – Francis S.Collins

Thông tin sách

Tên sách: Ngôn ngữ của Chúa

Tác giả: Francis S.Collins

Dịch giả: Lê Thị Thanh Thủy

Hiệu đính: Nguyễn Cảnh Bình

Số trang: 350

Quyết định xuất bản số 501/QĐ-ThG cấp ngày 07/05/2018


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Mở đầu sách bằng câu chuyện chuyển từ một người tôn sùng chủ nghĩa vô thần sang một người có đức tin của chính tác giả. Và một trong những nhà tư tưởng đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của Collins trong quá trình này là C. S. Lewis (mà ta sẽ thấy rằng trong những phần sau của tác phẩm, Collins thường trích dẫn Lewis cho nhiều vấn đề nan giải).

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại của Chúa, và Collin đã giải thích cho người đọc rằng Người là có thực bởi 4 lí do sau đây:

  • Chúa không phải là ảo tưởng vì có một nơi trong tâm trí của chúng ta bị “thiếu”, như sự khao khát mãnh liệt về một điều gì đó mới mẻ, và nó sẽ (cà cần) được lấp đầy bởi hình tượng Chúa.
  • Bản thân tôn giáo là tốt nhưng những người thực hiện là chưa tốt, do đó ta không nên phê phán tôn giáo. Về vấn đề này, tôi có một thắc mắc: ví dụ về CNXH ở Nga và Trung Quốc thì có khác gì đâu, tại sao tác giả lại chú ý về tính vôn thần của nó và qui kết thất bại của CNXH ở hai quốc gia này cho nó?
  • Không phải Chúa không yêu thương con người mà là do con người tự gây ra cho nhau những đau khổ và việc can thiệt tự do ý chí của con người sẽ dẫn đến hỗn loạn trật tự vũ trụ (giống việc Flash cứu mẹ nhỉ 🙂 ). Và những trải nghiệm đau  khổ sẽ giúp con người tìm ra và cảm nhận những điều đối lập tích cực hơn.
  • Điều kì diệu (điều kì diệu thực sự, không phải những thứ tầm thường được phóng đại lên) là một trong các biểu hiện cho sự tồn tại của Chúa.

Phần tiếp theo tác giả đã đi ngược tiến trình tiến hóa để lí giải sự hình thành sự sống và sự tồn tại của loài người. Bắt đầu bằng việc vũ trụ được hình thành có vẻ không chỉ đơn giản là do ngẫu nhiên. Có nhiều bằng chứng củng cố cho Thuyết Big Bang cũng như những lập luận chỉ ra những điều không thể lí giải được bởi Thuyết này. Tác giả đã chỉ ra ba kịch bản có thể cho các trường hợp này.

Trước hết, yếu tố “tình cờ” đã hình thành sự sống trong một vũ trụ độc nhất, là vũ trụ mà chúng ta đang sống. Tác giả cho rằng điều này là khó có thể xảy ra nhất và do đó, loại bỏ nó. Một lập luận khác về “đa vũ trụ” có thể gia tăng khả năng xảy ra điều này thì vẫn khiến tác giả khó tin vào sự may mắn của nhân loại khi được xuất hiện và tồn tại trong vũ trụ này (ông vẫn để ngỏ khả năng này). Cuối cùng, sự xuất hiện của Chúa có vẻ sẽ giải quyết những câu hỏi về sự khởi nguyên của vũ trụ tốt hơn cả. Mặc dù những kiến thức khoa học gần đây đã bác bỏ Thuyết quyết định khoa học (việc này thường xảy ra trong lịch sử phát triển của khoa học), giả định rằng Chúa đã thực sự hiện diện trong lịch sử hình thành và phát triển vốn cũng mong manh không kém, theo ý kiến của tôi. Nếu một người nào đó, bằng một cách ngẫu nhiên nào đó, nó rằng giá xăng sẽ tăng và quả thực giá xăng ngày mai tăng thì điều đó có chứng minh rằng người đó có khả năng tiên tri hay không? Tôi nghi ngờ điều này!

Đi sâu hơn vào nguồn gốc của sự sống trên Trái Đất tác giả chỉ cho ta thấy rằng sự vận hành của tự nhiên quá tức tạp đến mức đáng ngờ (rằng chọn lọc tự nhiên khó mà có thể tạo ra những gì phức tạp và tinh tế đến vậy!?). Những phát kiến của sinh học sau này đã giải quyết vấn đề trên: ADN, ARN và protein. Quá trình ARN thông tin được sao chép từ một ADN (nếu ví ADN là một cái thang được dựng lên từ các tổ hợp của hai cặp bazo A-T và G-C thì ARN chỉ là một nửa bên của cái thang này) chuyển những thông tin này sang một protein nhất định đã góp phần lí giải cho những lí luận trước đó về nguồn gốc các loài của Darwin và Wallace hay những thí nghiệm về di truyền của Mendel và Garold. Như vậy, tiến hóa là một cơ chế. Và vậy thì, vai trò của Chúa ở đây là gì?

Lần ngược tiến trình giải mã gen người của nhân loại ta thấy sự khó khăn của hơn 2000 nhà khoa học hàng đầu làm việc tại 6 trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới ròng rã hơn 10 năm. Thật may mắn khi họ quyết định công bố những thông tin này cho mọi người miễn phí (mặc dù vậy, tôi vẫn nghĩ việc Celera của Venter tham gia vào quá trình giải mã gen với tuyên bố sẽ đăng kí sở hữu tư nhân những thông tin sau khi giải mã đã thúc đẩy tiến trình này). Sau khi giải mã thành công bộ gen người, nhiều phát hiện mới khi những nhà nghiên cứu cố gắng đọc bản “hướng dẫn cho loài người” này:

  • Ở cấp độ ADN, ta thấy có những tương đồng đáng kể giữa những cá thể người cũng như giữa con người với các loài khác. Điều này đã ủng hộ Thuyết tiến hóa trên cơ sở chọn lọc tự nhiên của Darwin.
  • Khi so sánh trình tự ADN của con người với các sinh vật khác, ta cũng thấy có sự tương đồng rất cao. Những khác biệt ở mức độ vi mô đã dần tích lũy và gây ra tiến hóa ở cấp độ vĩ mô.

Điều này có ý nghĩa gì đối với việc giải thích về loài người? Chúng ta khác biệt. Và những khác biệt giữa ta và các loài khác (cho dù có tổ tiên gần gũi như thế nào) là do phát triển để phục vụ những mục đích khác nhau. Với tác giả, những điều này không loại trừ Chúa mà ở đây cũng như chỉ là cách Chúa vận hành thế giới này. Tôi đồng ý điều thứ nhất, còn điều thứ hai thì…

Phần tiếp theo tác giả đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về sự tồn tại của loài người dựa vào các góc nhìn khác nhau:

  1. Chủ nghĩa vô thần: Có vẻ như tác giả không thích chủ nghĩa vô thần khi họ sử dụng Thuyết tiến hóa để bác bỏ sự tồn tại của Chúa. Viện dẫn McGrath, tác giả đã chỉ ra những bất hợp lí trong ba lập luận sau đây của Dawkins:
  • Thuyết tiến hóa chỉ là giảm tác động của Chúa đối với sự phát triển của các loài.
  • Tôn giáo không phải là tin vào những gì không phải mà đó là những gì có thể.
  • Hậu quả của những việc làm nhân danh tôn giáo là do những kẻ thực hiện.

Bên cạnh đó Gould cũng chỉ trích Dawkins rằng khoa học không thể chứng tỏ sự tồn tại của Chúa vì Chúa đã vượt ngoài thực tế hiểu biết của loài người. Cá nhân tôi thì thấy cả những lập luận và phản lập luận đề cũng không ý nghĩa nhiều lắm!!

  1. Thuyết bất khả tri: Thuật ngữ “bất khả tri” do Huxley đề xướng nhưng bị nhiều người hiểu lầm và sử dụng sai. Nói nôm na thì ta chỉ có thể nói một con dao là vô dụng khi không thể sử dụng nó bằng mọi cách (cho nhiều mục đích khác nhau) nếu ta đã thử hết thảy thay vì là võ đoán dựa vào hình dáng của nó. Vì “không có khả năng thấu hiểu” nên nó dường như cũng khó mà hiểu được Chúa!
  2. Sáng tạo luận: theo tác giả, Sáng tạo luận rõ ràng là đã bị những người sáng tạo và theo nó làm cho tan rã và sụp đổ. Lí do đơn giản là họ đã gán góc nhìn của những người viết về sách Sáng thế (như thánh Augustine) cách nhìn nhận thế giới hiện đại của họ. Càng tìm cách chối bỏ các bằng chứng khoa học (mà ngày càng được tìm thấy nhiều hơn), họ lại càng tạo ra một nền tảng sai lầm hơn, do đó khiến thế hệ trẻ chối bỏ nó. Theo tác giả, họ nên cởi mở trước mọi tia sáng dù đó là xuất phát từ khoa học hay đó là ánh sáng thần thánh. Hay hai nguồn sáng này chiếu song song!?
  3. Thiết kế thông minh: Khi khoa học cần sự trợ giúp của Thần học để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc giải thích sự sống xuất hiện trên Trái đất này, Thiết kế thông minh ra đời. Ba định đề của thuyết này là:
    • Là lí thuyết khoa học nhưng nó không dựa vào khoa học mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ trước những quản điểm thực dụng vô thần như Johnson khao khát.
    • Nó không giải thích được sự phức tạp của tự nhiên một cách hoàn thiện. Thay vào đó, Behe đã lập luận rằng cơ sở chọn lọc tự nhiên không thể tạo ra những cỗ máy sống phức tạp như vậy được.
    • Và do đó, Chúa sẽ là người can thiệp.

Tuy nhiên, Thiết kế thông minh đã kết thúc sứ mạng của mình chỉ sau 15 năm tồn tại và phát triển:

  • Đầu tiên, Thiết kế thông minh chỉ lí giải những gì đã xảy ra mà không dự đoán được những phát hiện khác và gợi ý các cách tiếp cận khác mang tính thực nghiệm nên nó không thể là một thuyết khoa học thực sự.
  • Tiếp theo, sự phức tạp của những cỗ máy sống dần được khoa học nghiên cứu và khám phá ra là “không phải là không thể được”. Behe có nói rằng các sinh viên nguyên thủy đã chứa tất cả những gì cần thiết và cho đến một thời điểm nào đó sẽ được kích hoạt khi cần thiết. Điều này sau đó đã được chứng minh qua 3 ví dụ rõ ràng sau đây: (i) hiện tượng huyết khối – luôn có một hình thái trung gian trong sự phát triển; (ii) cấu tạo con mắt – các “thiết kế của Chúa” có vẻ không thực sự hoàn hảo và (iii) vi trùng roi – các chức năng của sinh vật luôn có một vai trò nào đó chứ không phải không hoàn toàn hữu ích (khi so sánh các loài gần nhau cho thấy giả định rằng không thể có chức năng hữu ích nào trước đó do qui trình chọn lọc tự nhiên chi phối vì những phần phức tạp không thể giản lược được là không đúng).
  • Và cuối cùng, về mặt thần học thì Thiết kế thông minh cho thấy hình ảnh của một đức Chúa vụng về cho nên nó cũng không được những người theo Chúa đón nhận.
  1. Kết hợp giữa khoa học và tôn giáo, tác giả đã đề xuất một giải pháp khác – Biologos – biến thể theo Thuyết tiến hóa hữu thần. Biến thể này gồm 6 định đề và nếu chấp nhận tất cả thì ta sẽ có Chúa. Tác giả đưa ra nhiều giải thích cho việc mọi người không biết đến học thuyết này như không có nhiều người nổi tiếng ủng hộ, không có nhiều người hiểu rõ nội dung của học thuyết, do tên gọi gây nhầm lẫn, vì nó đề nghị sự hòa hợp mà con người lại thích xung đột và nhiều người tin vào Chúa lại thấy thuyết này cho rằng Chúa làm việc một cách ngẫu nhiên.

Tóm lại, ta không nên áp dụng những giới hạn của con người cho Chúa vì Chúa vượt ra ngoài giới hạn những gì con người đã biết và sẽ biết. Ngay cả Kinh Thánh cũng nên được hiểu một cách hình tượng hóa, không nên theo sát nghĩa đen mà suy luận ra. Tác giả cho rằng lựa chọn về bên nào cũng nguy hiểm vì sự sáng tạo của con người là kì diệu và con người không có khả năng nắm bắt được điều đó.

Cá nhân tôi đánh giá không cao nội dung cuốn sách này vì những lập luận thiếu vững chắc và mang nặng tính chủ quan của tác giả. Ngoài việc cung cấp cấp những thông tin bổ ích và kiến thức về những tiến bộ của ngành sinh-hóa hiện đại thì phần còn lại không có gì thú vị.
Điểm đánh giá: 2/5
Advertisements