[Book]Đạo quân Trung Quốc thầm lặng – Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo

Thông tin sách

Tên sách: Đạo quân Trung Quốc thầm lặng

Tác giả: Juan Pablo Cardenal, Heriberto Araújo

Dịch giả: Nguyễn Đình Huỳnh

Số trang: 366

Quyết định xuất bản số 1539/QĐ-NXBHNV cấp ngày 11/10/2016


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Tôi được thầy tôi giới thiệu cuốn sách này (trước đó ông cũng khuyên tôi tìm đọc cuốn Tư bản thân hữu Trung Quốc) và lập tức tìm mua trên mạng vì những đánh giá hấp dẫn của ông.

Ở chương đầu tiên của cuốn sách, tác giả đã cho ta thấy một sự di cư của người dân Trung Quốc sang các quốc gia khác ra trong vài thế kỉ qua và những lợi ích mà “đế chế” này nhận được từ làn sóng di dân này. Người Trung Quốc đã di cư và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh ám muội tại các quốc gia kém và đang phát triển. Lí do họ lựa chọn những nước này là vì pháp luật lỏng lẻo và nhiều cơ hội làm ăn cho họ. Bên cạnh đó, chính quyền Trung Quốc cũng được lợi từ sự di dân này trong việc đối phó với nạn thất nghiệp và giảm căng thẳng xã hội đang tồn tại trong nội bộ quốc gia. Hơn thế nữa, những người dân di cư này thường trở về sau đó với một số vốn đáng kể để đầu tư vào giáo dục con cái hay kinh doanh cho Trung Quốc.

Một điều đáng chú ý khi nói đến cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài chính là mối liên hệ mạnh mẽ giữa họ. Một ví dụ điển hình là nếu có một người Trung Quốc muốn kinh doanh thì những đồng hương của anh ta sẽ sẵn sàng giúp đỡ cho dù họ không có mối quan hệ gia đình hay sắc tộc gì cả. Đối với mỗi người dân Trung Quốc thì Trung Quốc là một nhà nước – nền văn minh (không phải là nhà nước – quốc gia như suy nghĩ của những người dân ở các quốc gia phương Tây), và do đó, ý thức thuộc về nền văn hóa – truyền thống với lịch sử lâu đời của họ sẽ không biến mất dù họ có cư trú trên một lãnh thổ có nền văn hóa – xã hội khác. Ý thức chủ nghĩa dân tộc mà Bắc Kinh thúc đẩy trong nhân dân đã lan ra khỏi biên giới Trung Quốc và xâm nhập vào tất cả cộng đồng của họ ở nước ngoài. Những cộng đồng này đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính cho sự phát triển tại chính quốc, và được biết với tên gọi “Hội Trung Hoa vĩ đại”. Một vấn đề khác, nó như là lo lắng của nước Nga hơn, là nỗi sợ về một cuộc xâm lăng thầm lặng trong tâm trí người Nga đối với anh bạn láng giềng phương Nam này khi chứng kiến một Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Những hoạt động kinh doanh bất chấp của thương nhân Trung Quốc ở nước ngoài được hai giả trình bày thông qua các mẩu chuyện là nội dung chính của chương hai. Quốc gia đầu tiên được đề cập là Kazakhstan, cửa ngỏ vào Trung Á của Trung Quốc. Đất nước này gần như bị phụ thuộc hoàn toàn vào hàng hóa của Trung Quốc (một phần là do hệ thống giao thông kém phát triển, mà nếu có cải thiện thì cũng chỉ mang lại lợi ích cho lái buôn Trung Quốc). Khu vực Tân Cương cũng được Trung Quốc đầu tư đáng kể nhằm hai mục đích chính: i) ổn định tình hình chính trị tại đây và ii) tạo ra thêm các cơ hội giao thương trong và ngoài Trung Á. Sở dĩ Trung Á là mục tiêu của Trung Quốc trong những năm gần đây được các tác giả phân tích là do nhu cầu nguyên liệu cũng như lợi ích thương mại cho sự phát triển thần kì của Trung Quốc sau khi nước Nga để lại khoảng trống quyền lực ở những nơi này. Đối với Iran, Trung Quốc đang chơi một nước cờ đôi, một mặt vẫn tiếp tục lợi dụng các cơ hội kinh doanh với nước này, mặt khác lại phải thể hiện trách nhiệm của một “nước lớn” trên các diễn đàn quốc tế. Rõ ràng là Iran cũng biết những rủi ro từ Trung Quốc, và rằng mối quan hệ này là bất ổn nhưng họ không có nhiều lựa chọn. Hồng Kông là một đáp án tạm thời cho cả hai khi mà phần lãnh thổ này giờ đây đã “thuộc” về Trung Quốc (Một quốc gia, hai chế độ) nhưng vẫn duy trì được các quyền lợi từ các kí kết có từ thời bị Anh đô hộ. Tình hình với Dubai thì khá hơn một chút, khi mà Dubai vẫn nắm trong tay quyền lực tương đối để kiểm soát và đảm bảo cân bằng hơn khi làm ăn với những thương nhân người Trung Quốc. Ở Châu Phi, Trung Quốc đang cố gắng tái tạo lại mô hình kinh tế Châu Âu thuộc địa mà Đế quốc Anh đã thực hiện vào thế kỉ 19 thông qua việc tận dụng những mối quan hệ để kinh doanh (một cách không hợp pháp) tại những quốc gia kém phát triển. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, người dân ở các nước Châu Phi có cơ hội tiếp cận hàng hóa từ Trung Quốc và Trung Quốc ngay lập tức tận dụng các bảo hộ luật pháp từ WTO để phổ biến hàng hóa của mình ở những nước này. Nhưng, phân tích sâu hơn thì ta thấy đây là một trò chơi một chiều mà lợi ích luôn thuộc về Trung Quốc: họ nhập tài nguyên thiên nhiên từ các quốc gia Châu Phi sau đó xuất khẩu thành phẩm trở lại các quốc gia này với số lượng lớn hơn nhiều (nôm na là nhập khẩu nguyên liệu để làm 1 cái áo nhưng lại xuất khẩu 10 cái áo). Hậu quả là nhiều ngành công nghiệp ở các quốc gia này bị sụp đổ khiến cho việc phụ thuộc vào hàng hóa của Trung Quốc càng ngày càng trầm trọng. Còn ở Argentina, những người nhập cư Trung Quốc thâm nhập vào lĩnh vực siêu thị đầy hấp dẫn và kiểm soát gần như toàn bộ tại đây. Cùng một cách thức như những nơi khác, sử dụng những qui ước xã hội lâu đời, cộng đồng người Trung Quốc đã dựng lên các cửa hàng nhờ sự giúp đỡ từ các đồng hương và phát triển mạng lưới này (một cách không chính thức) thành công. Tóm lại, cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài đã tận dụng mọi cơ hội kinh doanh tại các quốc gia phát triển kém hơn, những quốc gia không được phương Tây và Nga chú trọng, để tạo ra ảnh hưởng của mình từ mọi phương diện, từ người sản xuất cho đến khách hàng. Và những người Trung Quốc này cũng không ngại (hay có thể nói khác đi là họ thích) sử dụng các phương thức kinh doanh không chính thống, các mối quan hệ không minh bạch cũng như lờ đi các qui định pháp luật của nước sở tại để làm giàu.

Vậy, Trung Quốc đã và đang làm gì tại các quốc gia kém và đang phát triển? Câu trả lời có ở chương ba và chương bốn: khai thác tài nguyên và mang về Trung Quốc. Chỉ vậy thôi. Hãy điểm qua một vài quốc gia được đề cập trong hai chương này:

  • Myanmar: ở Myanmar có hai thứ mà lái buôn Trung Quốc rất thích, đó là gỗ rừng và đá quí. Nói về gỗ thì người dân ở Kachin (1 bang của Myanmar) có lẽ là những người thấu hiểu hơn hết khi họ đã chứng kiến những gì mà các doanh nghiệp Trung Quốc đã làm với những cánh rừng ở nơi đây. Còn đối với đá quí, đặc biệt là đá ngọc bích hoàng đế, lái buôn Trung Quốc cũng tiếp cận với một cách khá tồi tệ không kém: tiếp cận nguồn hàng và sau đó loại bỏ dần các trung gian để hưởng lợi “dày”. Bên cạnh đó, việc khai thác khoáng sản thiếu trách nhiệm của các công ti Trung Quốc ở Myanmar đã gây ra nhiều hệ lụy về xã hội như ma túy, mại dâm, sức khỏe người dân và môi trường tự nhiên. Song, đây không phải là sự đánh đổi cho tương lai nào hết. Vì các quá trình sản xuất và chế biến đề ở Trung Quốc nên Myanmar chỉ giống như là sân bãi khai thác mà thôi. Trung Quốc thực sự đã lợi dụng rất tốt những khó khăn của Myanmar do các biện pháp trừng phạt quốc tế gây ra cho quốc gia này cũng như củng cố lợi ích địa chính trị để củng cố quyền lợi của họ ở nơi đây.
  • Peru: Trung Quốc đã sử dụng các công ti nhà nước như là một con bài chiến lược trong việc tiếp cận các mỏ khoáng sản tại quốc gia này. Một mặt, các công ti này thể hiện vai trò là những nhà đầu tư vô trách nhiệm với môi trường. Mặt khác, chúng lại được miễn trừ trách nhiệm vì lí do chính trị và đặc quyền ngoại giao có được từ vị thế của Trung Quốc.
  • Congo: tại quốc gia cực kì bất ổn về chính trị và kinh tế này, Trung Quốc cũng chơi chiêu bài “đầu tư vốn lớn trong dài hạn” như nhiều quốc gia khác. Lí do khá đơn giản: thứ nhất, về dài hạn thì lợi ích của các tài nguyên này cho Trung Quốc sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra ban đầu; thứ hai, các khoản thuế ưu đãi được ghi trong các hợp đồng với Congo sẽ khiến các khoản thuế ưu đãi chảy vào túi của các doanh nghiệp liên doanh (mà Trung Quốc nắm phần lớn vốn); và cuối cùng, Trung Quốc đóng vai trò ở tất cả các khâu, từ người cho vay, người bán cho đến khách hàng, và do đó họ sẽ khống chế được phần định giá để có thể mua những tài nguyên này với giá rẻ mạt. Điều đáng buồn là những công trình cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc hứa hẹn như là một phần trong các “thỏa thuận hợp tác” lại không hề phát huy tác dụng như kì vọng. Đầu tư cơ sở hạ tầng làm gì nếu như không đào tạo những người có đủ năng lực tiếp quản và sử dụng chúng cơ chứ?
  • Turmenistan, Kazakhstan, Sudan, Iran, Angola Venezuela có gì mà Trung Quốc thèm muốn? Đó là “vàng đen” – dầu mỏ. Các quốc gia này đều mang những đặc điểm chung: dự trữ dầu mỏ lớn, bị cấm vận bởi Mĩ và phương Tây và mức độ tham nhũng cao. Đặc điểm thứ nhất là lí do chính mà các công ti Trung Quốc tìm đến những quốc gia này: nguồn cung cấp dầu mỏ dài hạn cho sự phát triển của Trung Quốc. Đặc điểm thứ hai tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc tiếp cận và lấp đầy những khoảng trống mà các công ti phương Tây để lại và nó cũng mang lại lợi thế trở thành “lựa chọn duy nhất” cho Trung Quốc. Đặc điểm thứ ba được Trung Quốc sử dụng như là cách thức vận hành và được thừa nhận ngay trong các bảng cân đối kế toán của các công ti Trung Quốc. Việc mua bán dầu mỏ với Trung Quốc không chỉ mang lại nguồn lợi tài chính mà cả về quân sự cho Sudan. Còn đối với Iran thì lợi thế về quan hệ chính trị cũng như sức mạnh tài chính đã bù đắp những thiếu sót, yếu kém trong công nghệ khai thác và chế biến dầu mỏ của Trung Quốc. Tại Angola, Trung Quốc đã phá hỏng những kế hoạch và nỗ lực của các tổ chức tín dụng quốc tế nhằm gây ra áp lực buộc quốc gia này phải cải tổ để có thể tiếp cận các khoản vốn vay bằng những “tờ séc quyền lực” của mình. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Trung Quốc đang tạo thêm nợ chứ không hề có ý cải thiện bất cứ điều gì cho quốc gia này. Các cơ sở hạ tầng được xây dựng một cách chậm chạp và không có chút tiến triển gì nhiều năm liền trong khi dầu mỏ vẫn được xuất khẩu đều đặn sang Trung Quốc để trả nợ (mà nợ cái gì ấy nhỉ?). Venezuela lại là một ví dụ cực đoạn khác do những lệnh trừng phạt của Mĩ và phương Tây, những chính sách này khiến cho Trung Quốc trở thành “hàng xóm tốt bụng” của đất nước được mô tả là “lắm tiền, nhiều tài nguyên nhưng dễ dụ” này.
Advertisements