[Book]Cẩm nang Kinh tế học – Ha-Joon Chang

Thông tin sách

Tên sách: Cẩm nang Kinh tế học

Tác giả: Ha-Joon Chang

Dịch giả: Nguyễn Tuệ Anh

Hiệu đính: Nguyễn Đôn Phước

Số trang: 452

Quyết định xuất bản số 328/QĐ-NXBĐHKTQD, cấp ngày 22/06/2018

Mã ISBN: 978-604-946-450-8


Tóm tắt và đánh giá về nội dung của sách

Nội dung chính của sách gồm 2 phần chính và được chia thành 9 chương nhỏ. Phần đầu của sách giới thiệu cho độc giả cái nhìn tổng quan về Kinh tế học, phần còn lại tập trung vào các khái niệm riêng lẻ và ứng dụng của chúng tương ứng với các vấn đề đã đề cập trước đó.

Phần 1 (bao gồm chương 1-5): Làm quen với Kinh tế học

Chương 1 định hình cho ta khái niệm về Kinh tế học, rằng đó là một môn khoa học nghiên cứu về nền kinh tế, như vậy cuốn sách này định nghĩa kinh tế học theo đối tượng của nó. Tác giả nhấn mạnh rằng có nhiều cách để tiếp cận cách vận hành của một nền kinh tế, do đó để có thể lý giải các hiện tượng kinh tế mà ta thấy thì không nên chỉ sử dụng một lý thuyết duy nhất. Do đó, tốt hơn hết là ta nên tìm hiểu nhiều hơn một trường phái kinh tế học (ở chương 4 thì chúng ta sẽ được tác giả giới thiệu 9 trường phái như thế).

Sang chương 2 thì tác giả lại cho ta thấy lịch sử phát triển của Kinh tế học bắt đầu từ tác phẩm kinh điển của Adam Smith, Của cải của các dân tộc, cho đến năm 2014. Nội dung chương xoay quanh việc thế giới đã thay đổi và khiến cho các lý thuyết giải thích cho nền kinh tế cũng phải thay đổi theo như thế nào. Nói chung, mỗi một lý thuyết kinh tế thì chỉ hợp lý hay phù hợp đối với một khoảng thời gian – không gian nhất định.

Bằng cách tổng quát các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, chương 3 cho thấy vai trò của các lý thuyết kinh tế tương ứng với từng mốc thời gian lịch sử. Và chương 4 sẽ làm rõ hơn thông qua 9 trường phái, theo thứ tự sắp xếp trong sách, gồm:

  • trường phái Cổ điển
  • trường phái Tân cổ điển
  • trường phái Marxist
  • Truyền thống phát triển kinh tế
  • trường phái Áo
  • trường phái Schumpeter
  • trường phái Keynes
  • Kinh tế học Thể chế
  • Kinh tế học hành vi

Việc biết được đặc điểm của từng trường phái kinh tế cũng như hiểu rằng mỗi trường phái có điểm mạnh, điểm yếu riêng và chúng có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau khi tiếp cận các vấn đề phát sinh của nền kinh tế giúp ta biết rằng luôn có giải pháp cho các vấn đề kinh tế (và có thể là tất cả, khi mà các nhà nghiên cứu luôn tìm lời giải cho mọi rắc rối kinh tế, nhưng đó là chuyện tương lai). Công việc còn lại là chúng ta sẽ kết hợp chúng như thế nào để đối phó với những rắc rối đó.

Chương 5 cung cấp một danh sách dài các tác nhân và vai trò của họ đối với sự vận hành của một nền kinh tế. Tuy vậy, mỗi trường phái lại nhìn nhận từng đối tượng ở các khía cạnh khác nhau cho nên không trường phái nào giải thích cặn kẽ thái độ và hành vi của các tác nhân trong thực tế. Một lần nữa, xây dựng một lý thuyết vừa tổng quát hóa vừa đơn giản hóa dựa trên các lý thuyết kinh tế trước đó lại được đặt ra cho các nhà kinh tế.

Phần 2 (bao gồm chương 6-12): Ứng dụng

Ứng dụng của các lý thuyết kinh tế trong thực tế theo từng nhóm:

Chương 6: Sản lượng và thu nhập của một quốc gia, các chỉ số đánh giá hạnh phúc. Hầu hết những gì ta biết về chúng là thông qua các con số thống kê, nhưng bản thân các con số này vốn không hề khách quan. Dù vậy, ta vẫn phải sử dụng chúng nhưng ở mức độ nhận thức tốt hơn khi biết những con số này nói gì cho chúng ta và kể cả không nói những gì.

Chương 7: Hoạt động sản xuất và phát triển môi trường bền vững. Phát triển năng lực sản xuất đã và đang vẫn là vấn đề thiết yếu của nền kinh tế, cho dù có nhiều bằng chứng cho thấy một viễn cảnh thời hậu công nghiệp. Thách thức nằm ở chỗ chúng ta phải giải được bài toán biến đổi khí hậu. Và sử dụng công nghệ xanh là giải pháp cho những vấn đề này. Các nước đang phát triển cần nghiêm túc nhìn nhận và tiến hành quá trình công nghiệp hóa đi kèm với việc phát triển công nghiệp xanh cũng như cải thiện năng lực tổ chức.

Chương 8: Tài chính và ngân hàng. Quyền lực quá mạnh mẽ của các hệ thống tài chính khiến cho chúng ta cần phải có những điều tiết chặt chẽ để ngăn chặn sự phát triển thái quá của chúng. Hệ thống tài chính đã trở nên quá phức tạp, và do đó (theo tôi) cần hạn chế các sản phẩm phái sinh hay thậm chí bỏ bớt hoặc cải tiến để chúng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn.

Chương 9: Bất bình đẳng trong phân bổ và vấn đề nghèo đói. Ta cần nhận thức được rằng bất bình đẳng và nghèo đói là vấn đề chung và gần như không thể giải quyết được (một cách triệt để). Lý do là ở sự khác biệt về khả năng của mỗi cá nhân, và do đó không có biện pháp nào thực sự tối ưu.

Chương 10: Việc làm và thất nghiệp. Chúng ta muốn trang trải cho sinh hoạt hằng ngày, sử dụng các tiện ích hay đơn giản là chỉ thỏa mãn những thú vui nhỏ nhoi, chúng ta cần có tiền (hoặc thứ gì đó tương đương). Để có tiền thì chúng ta cần đi làm. Nếu không tìm được việc, chúng ta sẽ thất nghiệp. Và cho dù phải chịu đựng khổ sở như thế nào, mong muốn được sử dụng thu nhập (để đáp ứng nhu cầu của bản thân) khiến chúng ta phải làm việc. Dù vậy, tôi vẫn hoài nghi rằng liệu việc tăng lương có thực sự bù đắp được tất cả những điều kiện không tốt trong quá trình làm việc của một cá nhân, hay đơn giản đó chỉ là giải pháp tình thế.

Chương 11: Vai trò của nhà nước trong việc quản lí nền kinh tế. Nhà nước có vai trò nhất định trong điều tiết các hoạt động kinh tế, và tôi cho rằng chúng ta cần họ. Vấn đề là ở các chính trị gia. Những thay đổi to lớn đạt được trong kinh tế đều có sự hiện diện của tổ chức to lớn này, nhưng ta cũng phải kiểm soát chính họ.

Chương 12: Góc nhìn quốc tế hay là trao đổi thương mại giữa các quốc gia. Thương mại quốc tế, cán cân thanh toán, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tập đoàn xuyên quốc gia, nhập cư và kiều hối là những vấn đề được thảo luận ở chương cuối cùng này. Bản thân của mỗi quốc gia cần hiểu được mức độ cởi mở của nền kinh tế và các hệ lụy của của tất cả các vấn đề trên khi tiến hành giao thương với các quốc gia khác. Không có mẫu số chung cho tất cả.


Đánh giá chung

Theo lời tác giả thì sách dành cho cả người không chuyên về kinh tế nhưng cá nhân tôi cho rằng nếu muốn đọc và hiểu toàn bộ nội dung cuốn sách một cách tương đối thì bạn và biết (thậm chí hiểu) nhiều khái niệm được đề cập trong sách để liên kết các vấn đề lại với nhau. Bên cạnh đó, tôi thấy có vẻ tác giả không ưa thích các nhà kinh tế theo trường phái Marxist thì phải (không cần phải “nướng” những lời phát ngôn của họ lên đâu), cái này là cảm nhận riêng của tôi. Có thể là do người dịch, hoặc cũng có thể là do tác giả (tôi cho rằng cái thứ hai thì có khả năng cao hơn). Gói gọn lại từng ấy khái niệm về kinh tế học trong hơn 400 trang sách là điều không dễ, nhưng tác giả đã cố gắng làm được điều tuyệt vời này. Tóm lại, tôi đánh giá sách có thể dùng để tham khảo, khơi gợi niềm vui thích trong việc tìm hiểu Kinh tế học (với những người quan tâm) ở một mức độ tương đối.

Điểm đánh giá: 3/5
Advertisements

[08/04/2018]Đánh giá hạnh phúc?

Bài viết dẫn đọc: Chỉ số hạnh phúc thế giới 2012 – 2017

Chú ý: Bài viết trên chỉ là thông tin tôi dẫn để mọi người tham khảo, không phải nội dung tôi sử dụng/tham khảo để viết bài này.


Vấn đề xuất phát

Tại sao chúng ta lại đánh giá hạnh phúc của người khác thay cho họ?

Liệu việc biết thêm thông tin về thu nhập của hàng xóm khiến ta đánh giá thấp cảm giác thỏa mãn của bản thân so với trước đó có là điều đúng đắn hay không?

Việc chúng ta “thích nghi” với hoàn cảnh hiện tại và “chấp nhận” hay “an phận” có phải là điều không tốt?


Ý kiến cá nhân

Tôi không nghĩ bất cứ ai có quyền đánh giá hay cảm nhận hạnh phúc thay cho chính chúng ta. Cảm nhận của mỗi người là riêng biệt bởi vì không ai giống ai cả. Mỗi người có một hệ thống niềm tin, quan điểm về giá trị cũng như thái độ đạo đức khác nhau mà nếu đem tất cả đặt lên một bàn cân thì thật khập khiễng. Nó giống như việc ông Tây nói ông Việt Nam rằng ăn thịt chó là vô nhân đạo vậy, bởi vì chuyện đó không có gì là ghê gớm ở Việt Nam cả (dĩ nhiên, ngày càng có nhiều người ít ăn thịt chó và họ thường phê phán những người thích ăn thịt chó, nhưng vào những năm trước đây (và nếu cần thì có thể tìm hiểu thêm về lịch sử Việt Nam cũng được) thì việc ăn thịt chó khá phổ biến và có khi còn nhiều hơn cả ăn thịt bò ấy chứ). Môi trường sống khác nhau khiến chúng ta có những quan niệm về hạnh phúc khác nhau, bạn có hài lòng giống như tôi hay không? Tôi nghĩ là không.

Biết thêm thông tin giúp chúng ta có cái nhìn tốt hơn cũng như đánh giá nhiều mặt của một vấn đề hơn. Về mặt này thì tôi đồng ý. Vấn đề ở đây là, cho dù chúng ta được cung cấp thông tin tốt đến thế nào, thì việc đánh giá của mỗi người cũng không nên chịu ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Bạn được cung cấp thông tin thu nhập của những người dân ở các nước láng giềng và một người nói cho bạn rằng thu nhập phản ánh được chất lượng cuộc sống của công dân ở một quốc gia – thu nhập càng cao thì chất lượng cuộc sống càng tốt. Khi bạn nhìn vào bảng kê khai thuế Thu nhập cá nhân của mình, có lẽ bạn sẽ có chút khó chịu khi so sánh với thu nhập của một anh bạn nào đó bên Thái Lan. Ồ, và bạn cảm thấy một chút hụt hẫng, tức giận vì chất lượng cuộc sống của mình đang “quá thấp” so với họ. Mà gượm đã, trước đây vài giây bạn vẫn cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình cơ mà!? Thông tin trên đã khiến bạn đánh giá lại cảm giác của mình dựa trên cuộc sống của người khác.  Tôi không có ý nói rằng ta cứ tự ám thị rằng mình là người hạnh phúc thì mình sẽ cảm thấy hạnh phúc, rằng nhà cầm quyền nên làm công tác tư tưởng để những người dân khốn khổ của họ cảm thấy hài lòng với những gì đang có và khiến họ vỡ mộng là một cái tát trời giáng phi nhân tính. Ý của tôi là, chỉ những thông tin riêng lẻ như trên thì có đủ để đánh giá toàn diện về chất lượng cuộc sống của một người hay không. Tôi sẽ hoài nghi về một chỉ số, thậm chí là một hệ thống các chỉ số phức tạp hơn, có thể đo lường được điều đó. Một người Nhật chi tiêu khoảng 40,000 JPY cho ăn uống mỗi tháng (tương đương 8.38 triệu VNĐ) có cảm thấy tốt hơn so với tôi, với mức chi tiêu cho ăn uống chỉ khoảng 3 triệu VNĐ. Theo tôi được biết thì một trái chuối bình thường ở Nhật có giá khoảng 20,000 VNĐ và giá một bữa ăn trưa của một nhân viên văn phòng (theo khảo sát của Nikkan Spa, năm 2016) là khoảng 105,000 VNĐ, trong khi đó thì tôi tốn khoảng 25,000 VNĐ để có được một bữa trưa văn phòng có chuối dùng làm tráng miệng. Và tôi cũng là một nhân viên văn phòng bình thường. Nhưng tôi biết rằng anh bạn người Nhật kia sẽ làm việc năng suất hơn tôi nhiều, và áp lực công việc cũng cao hơn tôi nữa cho nên theo tôi (võ đoán) thì có lẽ tôi sẽ “hài lòng” với công việc hiện tại hơn. Tóm lại thì để đưa ra một đánh giá nào đó, ta nên có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề mà ta đối mặt bằng cách thu thập thêm thông tin, tham khảo ý kiến của những người biết nhiều hơn về vấn đề đó và nhất là có thái độ hoài nghi về những gì ta thu thập được (bạn cũng nên tìm hiểu những thông tin mà tôi nêu ra ở trên để thể hiện thái độ hoài nghi của bản thân đi, đừng tin vào tôi!).

Vấn đề cuối cùng mà tôi đề cập đến đến từ việc tôi chợt nghĩ đến một cuốn sách viết về các hành vi phi lý trí của cá nhân khi đối diện với các vấn đề kinh tế. Một lần nữa, “an phận” hay “chấp nhận”, theo tôi, không có nghĩa là chấp nhận hiện trạng và không muốn thay đổi, thậm chí là chống lại sự thay đổi để tốt hơn (tôi đã để những cụm từ này trong ngoặc kép nhằm nhấn mạnh rằng nó không có nghĩa mà mọi người thường nghĩ, lý do là tôi không tìm được từ nào để diễn tả suy nghĩ của mình lúc đó). Với mức thu nhập hiện tại thì tôi cảm thấy “chấp nhận” được, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ duy trì như vậy cho đến mãi sau này, không cần cố gắng thêm và chỉ việc hưởng thụ tất cả những tiện ích đang có. Tôi chấp nhận điều này là vì mức lương hiện tại giúp tôi trang trải tốt các chi phí sinh hoạt hàng ngày, tôi vẫn có các khoản mục cho bảo hiểm, giao lưu với bạn bè, mua một vài quyển sách để đọc lúc rảnh rỗi hoặc lên kế hoạch để mua một chiếc laptop mới vào cuối năm. Có thể bạn nghĩ rằng thu nhập của tôi cao nên tôi mới nói như vậy, nhưng mà thực sự thì thu nhập của tôi cũng chỉ vừa đến mức đóng thuế Thu nhập cá nhân thôi (tôi sẽ vui mừng biết bao nếu có thể đóng nhiều hơn thế :(, buồn thay!). Vậy tại sao tôi lại bằng lòng với những gì đang có? Tôi không chắc lắm, nhưng có lẽ nó cũng phản ánh khá tốt những đóng góp của tôi cho xã hội. Những đồng nghiệp của tôi có mức lương ấn tượng hơn nhiều, bởi vì họ làm nhiều hơn và “quan hệ” tốt hơn tôi. Tôi không có ý nói xấu họ đâu, thực tế thì xã hội này vận hành dựa trên rất nhiều mối quan hệ phức tạp như vậy. Cho dù họ đang “nhận” được nhiều hơn những gì họ đóng góp “cho” xã hội thì cũng chẳng liên quan gì đến cảm nhận của tôi lắm, vì những gì tôi làm được cũng chả thay đổi nhiều. Vậy thì tại sao tôi phải bớt “chấp nhận” nhỉ!? Tôi vẫn được làm những việc mà mình ưa thích, đọc sách và suy ngẫm trong những khoảng thời gian rảnh rỗi, trải nghiệm những chuyến đi chơi xa và hơn nữa tôi vẫn có kế hoạch tài chính cho bản thân và gia đình sau này. Tôi không “an phận” mà là tôi biết bằng lòng với những gì đang có, hưởng thụ từng khoảnh khắc vào lúc này và cố gắng cho tương lai. Tôi không nhìn vào người khác để đánh giá mình, việc đó không cần thiết mặc dù tôi có thể tham khảo nhiều điều tự họ, mà tôi sẽ so sánh bản thân mình ngày hôm nay với ngày hôm qua. Theo tôi thì đi nhanh cũng tốt đấy, nhưng chỉ cần tiến lên được và đúng hướng cũng đủ tốt rồi.

Hi vọng là mọi người đều hạnh phúc theo cách của riêng mình, ha ha!

[01/22/2018]5 ngàn đáng giá như thế nào?

Tuần trước tôi vừa có một cuộc tranh luận nhỏ với em trai của tôi và ông anh họ của tôi về vấn đề kinh tế học và hành vi của người tiêu dùng. Tôi có lấy ví dụ sau đây để minh họa cho việc kinh tế học khó mà giải thích được sự vô lý trong quyết định của người tiêu dùng:

Có hai tình huống như sau: tình huống thứ nhất, một người A chuẩn bị mua 1 cây bút bi với giá 10.000 VNĐ thì biết được thông tin rằng một cửa hàng cách đó khoảng 1 km cũng bán cây bút bi tương tự nhưng chỉ có giá 5.000 VNĐ. Tình huống thứ hai, một người B cũng chuẩn bị mua 1 cái TV với giá 100.005.000 VNĐ và cũng được biết thông tin rằng có một cửa hàng điện máy khác cách đó 1 km cũng bán chiếc TV tương tự với giá là 100.000.000 VNĐ. Hai người đó sẽ quyết định như thế nào? Giả sử rằng các điều kiện hay yếu tố khác ảnh hưởng tới A và B là như nhau.

Thông thường, ta sẽ đoán rằng, trong tình huống thứ nhất người A sẽ đi đến cửa hàng cách đó 1 km để mua cây bút bi với giá 5.000 VNĐ, còn trong tình huống thứ hai người B sẽ chẳng cần bận tậm lắm về mức chênh lệch nhỏ này và quyết định sẽ mua chiếc TV với giá 100.005.000 VNĐ. Có vẻ hai quyết định này hợp lý đấy chứ! Nhưng, xem nào, tại sao cùng một mức chênh lệch là 5.000 VNĐ và quãng đường phải đi là tương đương nhau (1 km) mà A và B lại có quyết định khác nhau như vậy (A quyết định đi, B quyết định không đi)?

Theo kinh tế học, con người là duy lý và luôn ra quyết định hợp lý. Vì tính duy lý, cho nên trong cùng một tình huống như nhau, các quyết định được đưa ra phải đồng nhất. Vì tính hợp lý, cho nên con người sẽ quyết định sao cho có lợi nhất. Giả như lợi ích của 5.000 VNĐ đối với A và B là như nhau (hay nói cách khác, chi phí cơ hội của việc đi một quãng đường 1 km để được giảm 5.000 VNĐ đối với A và B là như nhau) thì A và B phải có cùng một quyết định.

Khi nói đến đây, em trai của tôi không đồng ý và cho rằng mức chênh lệch 5.000 VNĐ ở hai tình huống không giống nhau. Trong tình huống thứ nhất, mức chênh lệch này có giá trị đáng kể (tương đương với việc giảm 50% giá bán cây bút bi). Trong khi ở tình huống thứ hai thì mức chênh lệch này thực sự không đáng kể lắm (5.000/100.005.000). Tuy vậy, trước đây cậu em của tôi cũng từng nói về việc mua hàng trên mạng, đại ý rằng không quan trọng là sản phẩm đó được giảm bao nhiêu %, quan trọng là giá thực sự mà ta phải trả cho sản phẩm đó là bao nhiêu. Các bạn đều biết rằng giá bán của cùng một sản phẩm ở mỗi cửa hàng là không giống nhau. Khi tôi truy cập Lazada để mua một cái máy hàn miệng túi FPS loại 400mm, mức giá ở mỗi cửa hàng niêm yết là khác nhau và chênh lệch khá đáng kể, từ 450.000 VNĐ đến 850.000 VNĐ và kèm theo là các mức chiết khấu khác nhau. Giả sử sau một hồi tham khảo bạn thấy có hai cửa hàng đáp ứng được các yêu cầu của bạn, cửa hàng X niêm yết giá cho cái máy là 450.000 VNĐ với mức chiết khấu 15%, còn ở cửa hàng Y thì niêm yết ở mức giá 650.000 VNĐ với mức chiết khấu 20%, bạn quyết định sẽ đặt hàng mua ở cửa hàng nào? Rõ ràng, mặc dù mức chiết khẩu ở cửa hàng Y cao hơn, nhưng số tiền thực sự phải trả cho cửa hàng X chỉ là 382.500 VNĐ, trong khi ở cửa hàng Y lên tới 520.000 VNĐ – nếu hai cái máy này là như nhau (mặc dù ta khó có thể biết chính xác được điều này khi mua hàng online) thì tại sao phải trả giá cao hơn trong khi ta được lựa chọn với mức giá rẻ hơn!!? Tóm lại, chính em trai của tôi cũng có phần mâu thuẫn khi nói giá trị của 5.000 VNĐ ở hai tình huống trên là không giống nhau.

Không, thực sự nó không giống nhau đấy. Nhưng không phải ở kinh tế học, mà là ở tâm lý học hành vi.

Tôi không muốn đào sâu vấn đề này vào hôm nay, có lẽ sẽ ở một ngày đẹp trời nào đó vậy, bởi vì tôi chuẩn bị đi ăn đây :).

P/S: ồ, tôi còn nhớ là em trai tôi có nói rằng chênh lệch 5.000 VNĐ ở hai tình huống trên là quá khác biệt, và nếu đó chỉ là 5.000 VNĐ với 5.000.000 VNĐ thì có lẽ A và B sẽ quyết định giống nhau. Thật ra, lúc đó tôi lấy ví dụ hơi vội nên không để ý lắm. Cơ mà, như vậy thì càng dễ chỉ ra sự “không duy lý” của người tiêu dùng trong kinh tế học chứ sao, ha ha.