[Book]Trực giác siêu linh – Osho

Thông tin sách

Tên sách: Trực giác siêu linh

Tác giả: Osho

Dịch giả: Hồ Minh Trí

Số trang: 271

Quyết định xuất bản số 0808/QĐ-NXBHĐ cấp ngày 28/09/2017


Những cảm nhận sau khi đọc

Với những cuốn sách thuộc thể loại triết-học-siêu-linh thế này (cái tên này do tôi tự đặt) thì rất khó để tóm tắt lại. Mà dẫu có được đi chăng nữa cũng phỏng có ích gì! Theo tôi thì tốt nhất là tự đọc và tự cảm nhận là hơn cả.

Những gì tôi ghi ra ở đây là cảm nhận của bản thân về những nội dung được Osho trao đổi trong sách, và kèm theo đó là những suy nghĩ của cá nhân tôi. Tôi không hề muốn áp đặt bất cứ ý kiến nào, mọi sự diễn giải được nêu ra nhằm bày tỏ hơn là để tranh luận.

Theo tôi hiểu, mọi suy nghĩ và hành động của một người có thể được giải thích bởi ba phần hay ba khía cạnh sau đây:

  • Thứ nhất, là bản năng. Bản năng thuộc về đời sống vật chất, là của nhục thể của mỗi người. Bản năng là tự động, chúng tự vận hành mà không cần sự suy nghĩ của ta. Có thể lấy ví dụ như sự hít thở, như trái tim đập để bơm máu đi khắp cơ thể ta vậy. Ta (gần như) không thể điều khiển những hoạt động này, và cũng không nên như thế. Tưởng tượng rằng nếu bằng cách nào đó mà ta có thể kiểm soát những hoạt động này thì có lẽ ta sẽ chết ngay lập tức. Bởi vì lúc đó ta sẽ phải suy nghĩ hàng tỉ tỉ thứ để cơ thể này có thể tồn tại, và rồi bộ não của chúng ta sẽ bị quá tải đến mức tê liệt. Những thứ thuộc về bản năng thì hãy để cơ thể của ta tự điều chỉnh. Đói thì ăn, khát thì uống, vui thì cười, buồn thì khóc…mọi thứ thuận theo tự nhiên là tốt nhất.

Không! Tôi không nói đến sự ham muốn vô độ của con người. Đừng đổ lỗi những thói tham lam, đam mê quyền lực, ham vinh hoa phú quí hay hoan lạc xác thịt cho bản năng. Hãy nhìn vào những con vật, chúng sống một cách gần như là theo bản năng. Chúng đâu có tham lam đến mức vô chừng như con người, chúng thể hiện uy quyền nhưng không đam mê, chúng quan hệ để duy trì giống nòi chứ không truy hoan đến mức đồi bại.

Chẳng hạn như, nhiều người thích tiền, thích đến mức mờ mắt, đến mức cuồng loạn. Họ suy nghĩ về tiền nhiều đến mức thấy đâu đâu cũng là tiền, dù tiền của ai cũng nghĩ rằng đó (sẽ) là của mình. Họ dùng trăm phương ngàn kế để có được tiền, cho dù có phải sử dụng những hành động xấu xa như thế nào chăng nữa. Và họ đổ lỗi những điều đó là do bản năng của con người, rằng là ai cũng ham tiền, chỉ là người khác thì cố gắng kìm nén điều đó còn họ thì thể hiện ra có phần thái quá mà thôi. Tôi không hề chê trách sự ham tiền (vì điều đó còn phụ thuộc vào ngữ cảnh) nhưng tôi không đồng ý đó là bản năng của con người. Tiền tệ là do xã hội tạo ra, là để vận hành nền kinh tế một cách dễ dàng. Nó là một công cụ được tạo ra bởi lí trí, bởi vậy nên nó không thuộc về bản năng. Có chăng là cách mà những người đó được giáo dục hay cách họ tiếp thu kiến thức, cách họ trải nghiệm đã tạo ra những tư duy như thế.

  • Thứ hai, là trí năng. Thành phần thứ hai này chính là căn nguyên cho sự lầm tưởng của chúng ta về thế giới này. Trí năng là sự duy lí, là sự tư duy một cách có lô-gic. Khi nhìn thấy một sự vật hay hiện tượng, ta tìm mọi cách để diễn giải chúng. Ta cảm thấy vui vẻ, thoải mái khi có thể giải thích được mọi thứ một cách phù hợp. Nhưng nếu không thể dự đoán được chúng, không thể hiểu cách chúng hoạt động thì ta sẽ cảm thấy khó chịu, bứt rứt không yên. Rồi ta lại cố gắng luận giải theo hướng khác, theo cách khác, cho dù có vô lí hay mơ hồ đến đâu chăng nữa. Rất nhiều lần lịch sử đã cho thấy rằng những luận giải của các bậc tiền nhân đều là sự ngộ nhận, thậm chí là cố chấp đến mức lệch lạc. Và cho dù khi thời gian trôi qua, những tinh hoa của loài người sẽ sửa chữa những lầm lạc đó, dẫn dắt con người đi trên những con đường tìm kiếm tri thức mới, với ngọn đèn dẫn đường mới thì vẫn không có gì đảm bảo con đường mà nhân loại đang đi sẽ dẫn tới chân lí đích thực cả. Mà cái gọi là chân lí đích thực đó, cũng không có gì đảm bảo là có thực cả.

Xã hội của chúng ta đề cao sự duy lí. Điều đó không hẳn là sai, nhưng lại có chút không công bằng. Dẫu vậy, cái mà tôi muốn bàn luận ở đây là, chúng ta nên làm chủ suy nghĩ , định hướng cho tư duy của mình hơn là đi theo nó. Trí năng nên là người giúp việc cho ta hơn là ông chủ của ta.

Bản thân tôi cũng là một người suy nghĩ rất nhiều. Suy nghĩ mọi lúc mọi nơi. Thậm chí cả khi đi ngủ thì giấc mơ cũng là một minh chứng cho thấy tôi vẫn đang suy nghĩ. Nhưng mà khác với lúc tỉnh, những giấc mơ cho tôi thấy một cái tôi khác, trần trụi và sợ hãi. Những lúc đó, tôi có cảm giác như trí năng đã đi ngủ và nhường lại sân khấu cho con người sâu thẳm bên trong tôi, mặc dù là tôi chẳng hiểu những điều đó có nghĩa là gì đi nữa. Mà dẫu sao thì sau khi thức dậy những điều đó cũng sẽ nhanh chóng bị chìm ngập giữa bộn bề cuộc sống mà thôi!

  • Thứ ba, là trực giác. Trực giác là chủ đề chính trong cuốn sách này. Theo Osho, trực giác vượt qua những hiểu biết thường thức của con người, và không có con đường nào có thể dẫn đến trực giác được. Trực giác là một bước nhảy lượng tử, chữ của Osho, và do đó ta không thể tư duy để đạt được nó. Trong thiền định, ta có thể coi như đó là sự đốn ngộ. Càng suy nghĩ về nó thì lại càng rời xa nó. Nhưng trực giác không ở đâu xa, nó ở trong chính mỗi con người. Nếu tạm phân chia ra thì bản năng sẽ là tầng thấp nhất, trí năng là tầng giữa và trực giác là đỉnh của ngôi nhà mang tên “con người”. Trực giác không phải là tiềm thức, cũng không phải là vô thức. Linh cảm (đặc biệt là của phụ nữ) cũng chỉ là một mảnh ghép nhỏ của trực giác. Trực giác vốn không phải là thứ để truy cầu, mà là cảm nhận. Khi những suy nghĩ bên trong biến mất, khi mọi giác quan đều ngừng tiếp nhận các tác động của ngoại cảnh…đó là lúc trí năng tạm thời lắng xuống, hòa nhịp cùng với bản năng…thì trực giác sẽ lên tiếng. Nói một cách hình tượng thì lúc này ta đang ở đây nhưng như không đang ở đây. Nhục thể tự vận hành là do bản năng, nhờ trí năng mà nó được sống nhưng cảm nhận được bản chất thật sự của sự sống là do trực giác.

Vốn dĩ tôi muốn diễn giải trực giác theo một cách dễ hiểu hơn nhưng khi làm thế tựa hồ chung lại làm mất đi bản chất thật sự của nó. Không những vậy, những hiểu biết nhỏ bé của tôi sẽ làm cho người đọc có những suy nghĩ lầm lạc về trực giác của Osho. Trực giác của Osho cũng như sự đốn ngộ khi nhập thiền hay Đạo của Lão Tử, (không nên và cũng) không thể giải thích bằng ý kiến cá nhân được.

“Đạo khả Đạo phi thường Đạo

Danh khả Danh phi thường Danh”.

Osho cũng chỉ ra rằng con người khó có thể tiếp cận được cái được gọi là trực giác là bởi những rào cản của sự hiểu biết, bao gồm tri thức, trí năng, trí tưởng tượng và quyền lực.

  1. Sự hiểu biết và tri thức là không giống nhau như nhiều người vẫn nghĩ, trong khi sự hiểu biết thể hiện sự trải nghiệm thì tri thức lại là lí thuyết được truyền lại. Biết càng nhiều thì khoảng cách giữa ta và sự vật càng lớn, biết càng ít thì khoảng cách giữa ta và sự vật càng nhỏ. Khi không có hiểu biết gì thì khoảng cách đó không còn, ta dễ dàng đắm chìm vào sự vật đó và cảm nhận. Nhưng ngay khi ta cảm nhận về sự vật đó thì ta đã có tri thức về nó. Chính vì vậy khi tiếp nhận tri thức từ tiền nhân là ta đã đánh mất cơ hội được trải nghiệm cái cảm nhận đẹp đẽ lúc sơ khai đó. Và dù ta có tìm kiếm được cơ hội trải nghiệm được sự vật mới đi chăng nữa, gần như ngay sau đó ta cũng đã tự tạo ra tri thức cho bản thân và mất đi cảm nhận lúc ban đầu.
  2. Trí năng là rào cản tiếp theo, như đã nói ở trên. Trí năng ngăn cản ta tìm đến trực giác là vì ta không làm chủ được nó. Trí năng là sự duy lí, là tư duy lô-gic. Trí năng không hiểu nổi trực giác, đối với trí năng thì trực giác là phi lô-gic, không có lí lẽ và không diễn giải được. Vì thế nó từ chối trực giác.
  3. Đôi khi chúng ta vẫn nhầm lẫn trí tưởng tượng và trực giác vì chúng có vẻ là mơ hồ như nhau, nhưng thực sự không phải vậy. Trí tưởng tượng là sự sáng tạo hiện thực của con người. Khi ta mơ thì đó cũng là lúc ta tưởng tượng. Và hơn thế nữa, ta vẫn có thể thỏa sức tưởng tượng ngay cả lúc tỉnh. Dù vậy, tất cả những sản phẩm này của tưởng tượng đều là ảo giác, là không có thực. Nhưng trực giác thì khác. Trực giác không tạo ra điều gì cả, nó chỉ phản chiếu lại sự vật mà thôi. Vốn dĩ trực giác luôn ở trong mỗi chúng ta, và vì thế ta không sáng tạo ra chúng, ta chỉ cần tìm tới chúng. Lưu ý rằng các chất kích thích mà con người sử dụng để thoát khỏi thực tại (như những người đó thường nói) đều dẫn đến các hiện thực sai lệch, đó là kết quả của việc kích thích trí tưởng tượng thái quá. Trực giác không nên và cũng không thể được tìm thấy bởi những thứ như thế này.
  4. Quyền lực hay thống trị, theo Osho, là sự thể hiện của cấp bậc thấp nhất – bản năng. Quyền lực là sự cố gắng chứng tỏ bản thân xuất chúng, là sự tranh đấu để thể hiện bản thân. Nhưng tại sao lại phải làm như vậy? Theo tôi thì quyền lực cũng là một sự tự ám thị bởi những quan niệm của xã hội kiểu như phụ nữ thì thấp kém hơn đàn ông, kẻ có nhiều tiền thì thành công hơn kẻ ít tiền…Tất cả mọi sự so sánh đều dẫn đến sự tranh đua, và nếu anh hơn tôi nghĩa là anh có quyền lực hơn tôi, và anh có quyền thống trị tôi và những người như tôi. Nhưng nếu những lí lẽ đó biến mất thì sao? Tôi không cần phải kiếm nhiều tiền như anh, vì điều đó không nói lên rằng tôi thua kém anh. Tôi cũng không cần đánh thắng anh vì chúng ta so tài là để tìm hiểu võ thuật của nhau. Nếu hết thảy mọi thứ đều là để tìm đến chân lí thì thắng hay thua, hơn hay kém đều không quan trọng nữa. Mọi người đều có những suy nghĩ riêng nhưng chân lí thì chỉ có một. Khi trực giác được vận hành, mọi sự xung đột sẽ không còn. Lúc này chân lí sẽ hiển hiện cho tất cả mọi người và quyền lực sẽ biến mất.   

Điểm chung của những rào cản này chính là sự áp đặt ban đầu. Và vì vậy, để tìm đến trực giác thì việc đầu tiên là hãy phủ nhận những áp đặt này.

Phủ nhận tri thức.

Phủ nhận trí năng.

Phủ nhận trí tưởng tượng.

Phủ nhận quyền lực.

Buông xả tất cả những rào cản trên, biến những tư duy thành những cảm nhận, ta sẽ đạt được trực giác siêu linh.

Đó không phải là con đường dễ dàng.

Nhưng khi đạt được điều đó, ta sẽ cảm thấy cuộc đời này đẹp đẽ đến nhường nào.

Điểm đánh giá: 3,5/5

[Book]Dữ liệu lớn – Bernard Marr

Thông tin sách

Tên sách: Dữ liệu lớn

Tác giả: Bernard Marr

Dịch giả: Thủy Nguyên

Số trang: 307

Quyết định xuất bản số 48/QĐ-NXBCT cấp ngày 25/05/2018


Những suy nghĩ sau khi đọc

Cuốn sách này mang tới rất nhiều kiến thức bổ ích về dữ liệu và phân tích dữ liệu. Sau khi đọc xong nó thì tôi có cảm giác như vừa trải qua một lớp học cấp tốc về dữ liệu lớn vậy. Vì vậy, tôi cũng không biết nên tóm tắt lại như thế nào nữa. Có lẽ tôi nên đưa những kiến thức này vào giáo trình dạy học của tôi thì hơn, ha ha ha!

Song, tôi nghĩ là một vài dòng suy nghĩ về nội dung cuốn sách là điều cần thiết.

Trước hết, hãy nói về khái niệm dữ liệu lớn (big data). Khi nghe đến danh từ “dữ liệu lớn” hay “big data” thì mọi người đều nghĩ ngay về một khối lượng lớn dữ liệu mà những nhà phân tích dữ liệu đang làm việc. Ngay cả tôi cũng vậy. Nhưng có một điều mà chúng ta cần phải làm rõ ở đây, đó là dữ liệu lớn như vậy đã có từ khá lâu trước đây rồi. Những dữ liệu ghi nhận từ nhiều ngành nghề, lĩnh vực, trong đời sống lẫn trong khoa học, từ trái đất cho đến ngoài vũ trụ…Sự thực là chúng ta đã tích lũy được một lượng lớn dữ liệu như vậy từ cách đây nhiều năm rồi. Và đó không phải là điều mà nội dung cuốn Dữ liệu lớn của Bernard Marr muốn nói đến ở đây. Theo Bernard, bất cứ điều gì xảy ra thì đều để lại dấu vết. Những “dấu vết” này được thu thập và xử lí sẽ trở thành dữ liệu và vì có rất nhiều thứ xảy ra quanh ta mỗi khoảnh khắc nên sẽ có rất rất nhiều nguồn cung cấp dữ liệu như vậy. Đó chính ý tưởng của dữ liệu lớn.

  • Trước đây, chúng ta thường thu thập dữ liệu và lưu trữ chúng ở dạng có cấu trúc hay nói cách khác theo một định dạng chuẩn nào đó. Ví dụ như khi lưu thông tin về tên của khách hàng thì chúng ta sẽ nhập theo 3 trường dữ liệu: Họ – tên đệm và tên. Và mặc dù là chúng ta cũng có cả dữ liệu phi cấu trúc, chúng ta gần như không sử dụng được chúng một cách thực sự hiệu quả. Ảnh chụp hay các video là những ví dụ điển hình cho dữ liệu phi cấu trúc.
  • Tiếp theo, với sự phát triển của công nghệ thì chúng ta có thể khai thác thêm nhiều nguồn dữ liệu mới từ các hoạt động hàng ngày của con người, các cuộc đối thoại, dữ liệu ghi nhận từ các cảm biến và internet vạn vật.
  • Đến đây, chúng ta sẽ phải đối mặt với một lượng dữ liệu cực lớn. Chúng ta gần như là bị chìm trong “biển” dữ liệu này. Vấn đề là với một lượng lớn dữ liệu như vậy thì chúng ta cần có một thiết bị có dung lượng lưu trữ thực sự khổng lồ. Và chúng ta đã giải quyết được bài toán về việc lưu trữ khi các thiết bị lưu trữ dữ liệu có dung lượng ngày càng lớn được phát triển. Hãy xem xét một ví dụ nhỏ, vào những năm 50 của thế kỉ 20 người ta phải xây hẳn một tòa nhà để chứa một thiết bị có dung lượng tương đương với cái ổ cứng trong chiếc laptop mà tôi đang sử dụng lúc này đây!
  • Và quan trọng nhất, hơn cả việc lưu trữ dữ liệu, đó là đến bây giờ chúng ta đã có thể xử lí một lượng lớn dữ liệu gần như ngay lập tức. Đó là nhờ vào những cỗ siêu máy tính, công nghệ AI, Learning Machine…những công cụ hỗ trợ phân tích dữ liệu cực kì mạnh mẽ. Đúng vậy! Nếu không thể hiểu hay sử dụng những dữ liệu một cách có ích cho chúng ta thì việc có nhiều dữ liệu hơn nữa phỏng có cần thiết? Đến đây, chúng ta mới thực sự có được thứ mà ta vẫn gọi là dữ liệu lớn.

Vì vậy, như tác giả đã đề xuất, ta nên gọi những dữ liệu này là dữ liệu thông minh (SMART data) thay vì là dữ liệu lớn (BIG data) để thể hiện đúng bản chất của nó. Và S-M-A-R-T cũng chính là bộ khung cho việc sử dụng dữ liệu lớn một cách đúng đắn, bao gồm[1]:

  • Bắt đầu bằng việc xây dựng chiến lược (Strategy).
  • Sau đó là đo lường các dữ liệu cần thiết (Measure).
  • Sử dụng các công cụ để phân tích dữ liệu (Analyze).
  • Báo cáo kết quả hỗ trợ cho việc ra quyết định (Report).
  • Và cuối cùng, chuyển hóa tất cả vào hoạt động (Transport).

Có lẽ khi nói đến việc sử dụng dữ liệu lớn thì nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc thu thập thật nhiều dữ liệu nhất có thể. Nhưng với nguồn lực có giới hạn thì chỉ khoảng 1% số lượng công ti trên thế giới như những Google, Facebook hay Amazon mới có thể tiếp cận được cái gọi là “lớn” đó. Việc của chúng ta ở đây là xây dựng một bộ dữ liệu nhỏ nhất (vâng, nhỏ nhất) nhưng rõ ràng nhất. Bởi vì dù chúng ta có thu thập nhiều hơn nữa thì cũng khó mà khai thác được toàn bộ thông tin hữu ích từ chúng. Thêm vào đó, giá trị của dữ liệu không phải là bản thân dữ liệu mà là cách chúng ta sử dụng chúng. Do đó, thay vì đi tìm hiểu tất cả (và chết chìm trong dữ liệu) thì chúng ta cần biết mình cần dữ liệu gì. Nghĩa là đầu tiên chúng ta sẽ đưa ra những câu hỏi, sau đó xác định những câu hỏi nào mà mình cần trả lời trước khi thu thập dữ liệu. Nên nhớ là đôi khi câu hỏi thì quan trọng hơn cả đáp án. Bảng các câu hỏi SMART trong sách sẽ giúp bạn (hay doanh nghiệp của bạn).

Như đã trình bày ở trên, trong thời đại Dữ liệu Lớn thì mọi thứ mà chúng ta làm luôn để lại dấu vết kĩ thuật số – thứ mà có thể được sử dụng và phân tích. Sau khi đã xác định dữ liệu cần thu thập thì chúng ta sẽ xem xét một hệ thống phân cấp logic để giải đáp các câu hỏi SMART. Hệ thống phân cấp này đi từ mức độ dễ tìm, dễ phân tích và ít tốn kém (dữ liệu nội bộ + có cấu trúc) cho đến mức độ khó kiếm hơn, cần kĩ thuật phân tích cao với chi phí cao (dữ liệu bên ngoài + phi cấu trúc). Mặc dù ta đều biết rằng nguồn dữ liệu bên ngoài phi cấu trúc thì thường chứa nhiều thông tin quan trọng song mục đích của chúng ta là tối ưu nguồn lực: nếu chỉ cần sử dụng dữ liệu nội bộ có cấu trúc cũng có thể trả lời những câu hỏi cần thiết thì tại sao lại phải phí thời gian và nguồn lực quí báu để tìm hiểu dữ liệu từ các nguồn khác?

Sau khi đã sở hữu được dữ liệu cần thiết thì việc công việc tiếp theo là biến những dữ liệu đó thành hiểu biết có ý nghĩa để hỗ trợ việc thực hiện chiến lược. Đây chính là phần tạo ra giá trị (value) cho dữ liệu. Có một điều mà nhiều người vẫn thường nhầm lẫn về sự tương quan và mối liên hệ nhân quả. Nên nhớ rằng hầu hết các thuật toán hiện đại đều chỉ có thể xác định xác suất xảy ra một sự kiện nào đó chứ nó không thể chỉ ra một cách chắc chắn rằng điều gì dẫn đến sự kiện đó. Nói cách khác, các thuật toán chỉ làm công việc nhận diện những mối tương quan và sử dụng chúng để dự báo rằng khả năng xảy ra một sự kiện bất kì là cao hay thấp (và dù cao đến đâu thì cũng không thể đạt được tới giá trị 100%). Có rất nhiều kĩ thuật phân tích tinh vi cực kì hấp dẫn đã được phát triển trong thời gian gần đây, nhưng đừng để lạc hướng bởi chúng. Nhiệm vụ của chúng ta là tìm một kĩ thuật dễ tiếp cận, ít tốn kém và tốt nhất có thể.

Sau khi đã có kết quả phân tích thì bước tiếp theo chúng ta cần làm chính là trình bày lại những hiểu biết có được cho mọi người cùng hiểu (đặc biệt là các lãnh đạo 😊). Trong hầu hết các trường hợp, các nhà lãnh đạo luôn gặp khó khăn trong việc nắm bắt mọi thông tin được đưa đến cho họ. Việc không nắm rõ thông tin sẽ gây ra những hiểu nhầm và có thể dẫn đến những quyết định sai lầm đáng tiếc. Hình tượng hóa dữ liệu thông qua các biểu đồ hay đồ họa thông tin là một cách thức trình bày rất hiệu quả và nên được sử dụng thay vì chỉ báo cáo kiểu truyền thống với những bảng biểu đầy những chữ và số.

Và cuối cùng là phần biến đổi doanh nghiệp. Sử dụng dữ liệu lớn trong kinh doanh là một quá trình cải tiến liên tục, do đó nếu chỉ “ngồi lên” dữ liệu và dừng đặt câu hỏi sau khi đã phân tích xong chúng thì có nghĩa là bạn đang giậm chân tại chỗ trong khi những người khác đang tiến về phía trước. Có một số câu hỏi chỉ cần một lời giải đáp, nhưng cũng có những câu hỏi mà đáp án sẽ thay đổi theo thời gian. Vì vậy, việc thu thập dữ liệu, phân tích và báo cáo định kì là một gợi ý hay cho hoạt động kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào.

Điểm đánh giá: 3,0/5

[1] Tôi đã thay đổi một chút các chữ cái bắt đầu của bộ khung này, vì vậy thực sự xin lỗi tác giả Bernard. Những thay đổi này là do những nhận định chủ quan của tôi dựa trên những nội dung mà tôi cho là quan trọng. Và vì vậy, những bạn nào đọc về bài viết này nên đọc tác phẩm gốc để hiểu được ý tưởng gốc của tác giả.

[06/19/2019]Về nghiên cứu khoa học.

Cho đến bây giờ thì tôi vẫn chưa thực sự viết được một bài nghiên cứu khoa học nào cả. Thói lề mề và không chú tâm của tôi đã khiến cho tôi bỏ lỡ một vài cơ hội từ đầu năm đến giờ. Nhân vừa mới đọc xong quyển Đi vào nghiên cứu khoa học của thầy Nguyễn Văn Tuấn, tôi muốn tổng hợp lại vài điều thầy chia sẻ trong sách, đồng thời bổ sung thêm một số ý của bản thân. Hi vọng rằng chúng sẽ giúp tôi có những bước đi đúng đắn trên con đường nghiên cứu khoa học mà tôi đã chọn.

Trước hết, để nghiên cứu khoa học thì chúng ta cần có văn hóa nghiên cứu khoa học. Dựa vào những hiểu biết của tôi thì văn hóa nghiên cứu khoa học [tối thiểu] bao gồm những điều sau đây:

  • Hoài nghi khoa học: điều này thực sự rất cần thiết đối với một người nghiên cứu. Khi gặp một sự vật hay sự việc bất kì, một người có văn hóa khoa học sẽ đặt câu hỏi tại sao, từ đó liên tục suy nghĩ cho đến khi phát hiện ra vấn đề. Dù chúng ta không giải quyết được vấn đề thì hoài nghi khoa học cũng giúp chúng ta nâng cao khả năng quan sát hiện tượng và tư duy.
  • Thành thật khoa học: làm khoa học là hành trình đi tìm và truyền đạt lại kiến thức. Những kiến thức này cần được hệ thống hóa và công bố cho tất cả mọi người cùng biết, không hề giấu giếm. Vì vậy, ta phải tôn trọng sự thật và đặt nó lên trên hết thảy. Tuyệt đối tránh áp đặt định kiến vào các phát biểu hay kết luận nghiên cứu[1]. Bên cạnh đó, một phát biểu có tính khoa học cần có cơ sở (dựa trên kết quả nghiên cứu) hay tài liệu tham khảo (nếu trích dẫn từ nghiên cứu khác). Việc kèm theo tài liệu tham khảo không chỉ giúp nghiên cứu của chúng ta thêm vững chắc mà còn là sự ghi nhận công trạng của những người nghiên cứu trước. Hãy luôn ghi nhớ rằng kiến thức có tính kế thừa và hầu hết những hiểu biết hiện tại mà chúng ta có là do được truyền đạt lại.
  • Kiểm chứng khoa học: “bằng chứng khoa học có thể không hoàn hảo nhưng dựa vào bằng chứng khoa học chúng ta ít sai hơn là dựa vào kinh nghiệm và niềm tin duy ý chí”. Phương pháp nghiên cứu là thực hành khách quan, nghĩa là dựa trên cơ sở lí thuyết và dữ kiện được thu thập một cách khách quan. Thêm vào đó, những kết quả nghiên cứu phải có tính tái xác thực, nghĩa là có thể kiểm tra tính đúng đắn [của những kết quả này] nếu ta thực hiện những nghiên cứu tương tự khác.
  • Trách nhiệm xã hội: nghiên cứu khoa học là nhằm phục vụ cộng đồng và xã hội. Có những nghiên cứu được ứng dụng ngay vào thực tiễn và thể hiện sự hữu ích một cách trực tiếp (thường là những nghiên cứu ứng dụng) và cũng có những nghiên cứu cung cấp tri thức nhằm hỗ trợ hoặc tạo động lực cho sự phát triển một cách gián tiếp (thường là những nghiên cứu cơ bản). Còn những nghiên cứu xa rời thực tế, không đem lại lợi ích cho xã hội thì nên hạn chế để tránh lãng phí tài nguyên.

Tiếp theo, ta cần có những hành động cụ thể để đạt được thành tựu trong nghiên cứu khoa học:

  • Cần chọn cho mình một chương trình học hay một hướng đi thích hợp. Chúng ta cần phải hiểu rõ bản thân muốn gì, sau đó đặt ra các mục tiêu cụ thể và dựa theo đó mà phấn đấu. Không hẳn là phải làm những gì lớn lao thì mới gọi là thành công. Chỉ cần học hành một cách cẩn thận, tập trung và chuyên sâu thì đều có thể giúp ích cho xã hội.
  • Có được định hướng rồi thì ta phải kiên trì theo đuổi, không nên bỏ giữa chừng vì nản chí hay những lí do thiếu thuyết phục khác. Nên nhớ rằng nghiên cứu khoa học là một quá trình lâu dài và nóng vội cũng không giúp ta đạt được thành quả nhanh hơn – “dục tốc bất đạt”. Hãy chấp nhận một sự thật rằng, con đường nghiên cứu khoa học sẽ có rất nhiều chông gai và những kết quả không như mong đợi chỉ là những thử thách bình thường.
  • Chọn trường tốt, thầy cô tốt và đồng nghiệp tốt. Trường tốt là nơi tạo điều kiện cho ta tiếp cận tri thức khoa học tiên tiến và học hỏi, trao đổi ý tưởng với những người “có đẳng cấp”. Thầy cô tốt là những người sẽ giúp ta được tự do theo đuổi ý tưởng và trợ giúp kiến thức cũng như cách tiến hành nghiên cứu một cách khoa học và hợp lí. Tương tác với đồng nghiệp tốt sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu. Đôi khi từ những cuộc thảo luận với đồng nghiệp chúng ta sẽ nảy sinh những ý tưởng mới hay những khám phá quan trọng trong lĩnh vực mà ta đang quan tâm.
  • Song song đó, chúng ta phải biết được mình đang ở đâu bằng cách đặt công trình nghiên cứu của mình trong bức tranh toàn cục của lĩnh vực nghiên cứu. Luôn giữ một góc nhìn toàn cảnh sẽ giúp ta duy trì định hướng nghiên cứu khoa học được đặt ra ban đầu.
  • Nắm vững phương pháp và kĩ thuật giúp ta trở thành một người nghiên cứu độc lập, ít bị phụ thuộc vào người khác. Chúng ta không phủ nhận lợi ích của sự hỗ trợ, nhưng phải ý thức rõ rằng công việc nghiên cứu khoa học trước hết là của cá nhân, mọi hỗ trợ khác nên [và chỉ] là bổ sung, không [nên] có tính quyết định. Bên cạnh đó, rèn luyện kĩ năng thông tin và truyền đạt cũng giúp ta tự tin hơn khi tham gia vào “đấu trường” quốc tế. Sẽ thật đáng tiếc nếu chúng ta làm nghiên cứu rất tốt nhưng lại không trình bày được những điểm đáng chú ý của nghiên cứu hay diễn đạt ý tưởng sai lệch đi. Khi đã có được hai điều ở trên thì chúng ta hãy thể hiện thái độ “ở trên” một cách xứng đáng. Điều đó không có nghĩa là trịch thượng hay thái độ bề trên, kiêu ngạo. “Ở trên” ở đây có nghĩa là đứng bên trên những tranh chấp không đáng có, hành xử một cách lịch sự và tập trung vào công việc của bản thân.

Cuối cùng, tôi xin được trình bày lại một số hiểu biết trong hoạt động nghiên cứu khoa học mà tôi nghĩ là cần thiết. Điều này giúp ta tránh những tranh cãi không cần thiết khi thảo luận về các khía cạnh cơ bản của một vấn đề khoa học.

Với tôi, việc phân biệt nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là cần nhưng không nên quá rạch ròi. Thực tế thì nhiều nghiên cứu khoa học gần đây là một sự kết hợp cả yếu tố “cơ bản” lẫn yếu tố “ứng dụng”. Để tạm phân biệt khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng thì ta có thể sử dụng 3 tiêu chí sau đây của thầy Tuấn:

  • Động cơ nghiên cứu: mục tiêu của khoa học cơ bản là [sáng tạo] tri thức còn động cơ của khoa học ứng dụng là giải quyết vấn đề thực tế.
  • Sản phẩm nghiên cứu: sản phẩm của khoa học cơ bản là tri thức mới có tính lí thuyết và dữ liệu mới, còn sản phẩm của khoa học ứng dụng là công nghệ và tri thức thực tế.
  • Giá trị nội tại: khoa học cơ bản thì hướng tới hiểu biết về thế giới chung quanh còn khoa học ứng dụng thì nhằm thay đổi hoặc gìn giữ thế giới.

Hầu hết các nghiên cứu khoa học đều bắt đầu bằng những câu hỏi. Vậy, một câu hỏi nghiên cứu như thế nào thì được coi là hay? Một câu hỏi nghiên cứu hay cần đảm bảo 5 tiêu chuẩn sau:

  • Tính khả thi – feasible: cần nhận thức được hạn chế trong thực tế ngay từ khi suy nghĩ đến câu hỏi nghiên cứu. Khi nói về tính khả thi của nghiên cứu thì ta cần xét đến 5 yếu tố sau: đối tượng, kĩ thuật, kinh phí, thời gian và phạm vi. Tuy nhiên, có những điều là hạn chế ở hiện tại nhưng vẫn có khả năng khả thi ở tương lai, ta cũng cần lưu ý điều này.
  • Tính thú vị – interesting: đây nên là động cơ để theo đuổi nghiên cứu khoa học. Một câu hỏi nghiên cứu thú vị thì thường mang tính thách thức và khiến cho mọi người cảm thấy bất ngờ.
  • Tính mới – novelty: nghĩa là đóng góp thêm thông tin mới hay dữ liệu mới. Những nghiên cứu lặp lại đơn thuần thì thường nhàm chán, ta không nên tốn thời gian và công sức vào những nghiên cứu như vậy.  
  • Tính đạo đức – ethics.
  • Tính có liên quan, ảnh hưởng – relevance.

Đối với các nghiên cứu khoa học thì tài liệu tham khảo thực sự rất cần thiết. Không chỉ là sự ghi nhận đóng góp của những người đi trước mà việc tham khảo [nhiều] tài liệu cũng cho thấy chúng ta thực sự nghiêm túc khi tiến hành nghiên cứu khoa học. Ở đây chúng ta không bàn về cách trích dẫn[2] mà là khi nào thì cần phải trích dẫn. Đó là:

  • Trích dẫn nguyên văn nghiên cứu hay phát biểu của một tác giả hay của chính mình.
  • Khi đề cập đến một phát biểu hay tóm lược ý kiến của người khác mà chúng ta dùng làm nền tảng cho nghiên cứu của mình.
  • Những phát biểu có kèm theo con số, đề cập đến dữ liệu hay phát hiện của người khác.

Không phải tất cả các nghiên cứu đăng báo thì đều được coi là bài báo khoa học. Một bài báo được xem là bài báo khoa học chỉ khi nào “nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn”. Ta có thể hiểu là cần phải có một đội ngũ chuyên gia trong ngành giỏi và uy tín, một lộ trình xét duyệt khách quan và phù hợp, các tiêu chí khoa học cụ thể và hợp lí, tập san đúng chuyên ngành và được đánh giá tốt. Để đánh giá một tập san khoa học, người ta thường sử dụng hệ số ảnh hưởng (impact factor – IF). IF là tần số trích dẫn trung bình của những bài báo khoa học sau khi đã công bố trong vòng hai năm. IF chỉ tính cho những tập san được liệt kê trong danh bạ ISI hay Journal Citation Report của ISI.

Ví dụ: trong năm 2016 và 2017, tập san A công bố 100 bài báo khoa học. Năm 2018, ta thống kê rằng có 1500 bài báo khác trích dẫn 100 bài báo này thì IF của tập san A sẽ là 1500/100 = 15. Rõ ràng cách tính bình quân như vậy khiến cho IF có khá nhiều hạn chế, song ta sẽ không đề cập ở đây.

Vậy đánh giá một nhà khoa học thì như thế nào? Theo các hội đồng khoa học thì những chỉ số sau đây có thể dùng để đánh giá năng lực của một nhà khoa học:

  • Số lượng ấn phẩm khoa học đã được công bố. Tuy nhiên cần xem xét cả chất lượng của những ấn phẩm này: một nhà khoa học giỏi có thể chỉ công bố một vài công trình nhưng đó là những công trình có giá trị lâu dài và được cả cộng đồng khoa học đánh giá cao.
  • Chỉ số trích dẫn hay số lần trích dẫn công trình, bài báo khoa học. Dù vậy, do đặc thù của từng lĩnh vực mà chỉ số trích dẫn sẽ có sự khác biệt khá đáng kể giữa các bộ môn khoa học. Nghĩa là khi so sánh chỉ số trích dẫn thì ta chỉ nên so sánh các nghiên cứu hay các nhà khoa học có cùng lĩnh vực với nhau.
  • Vị trí của tác giả khi được đề tên lên một bài báo khoa học. Thông thường thì tác giả thứ nhất (tên đầu tiên trong danh sách tác giả) và tác giả sau cùng (tên cuối cùng trong danh sách tác giả) là những người có nhiều đóng góp nhất cũng như chịu trách nhiệm về dữ liệu trong bài báo khoa học. Bằng cách kết hợp vai trò của tác giả trong một bài báo khoa học và hệ số ảnh hưởng của tập san mà bài báo đó được đăng, người ta tính được chỉ số Z theo công thức bình quân có trọng số.

Ví dụ: một nhà khoa học có 3 bài báo khoa học được công bố trên 3 tập san khác nhau. Ở bài báo số 1, nhà khoa học là tác giả chính nên có phần trăm đóng góp là 100%  và IF của tập san đăng bài này là 5. Tương tự như vậy đối với bài báo số 2, phần trăm đóng góp của nhà khoa học là 30% và IF của tập san này là 3. Đối với bài báo số 3, phần trăm đóng góp của nhà khoa học là 30% và IF của tập san thứ ba là 2. Như vậy, chỉ số Z của nhà khoa học này được tính là: 100%*5 + 30%*3 + 30%*2 = 6,5.

  • Chỉ số H (Hirsch index – H index): chỉ số H của một nhà khoa học là “H công trình trong số N công trình của nhà khoa học đó được trích dẫn ít nhất H lần, và (N – H) [công trình] được trích dẫn dưới H lần”.

Ví dụ: một nhà khoa học có H = 10 nghĩa là nhà khoa học này có 10 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 10 lần.

Ngoài ra còn nhiều chỉ số khác như chỉ số H chuẩn hóa, chỉ số g, chỉ số H đương đại, chỉ số H cá nhân…nhưng không một chỉ số nào hoàn chỉnh. Dù vậy, các chỉ số ở trên vẫn cung cấp cho ta những đánh giá khách quan và tốt hơn những ý kiến các nhân hay những yếu tố chủ quan khác trong cơ chế bình duyệt thông thường.


[1] Ý kiến của bản thân chỉ nên dùng để tham khảo. Do đó, không nên nói hay phát biểu một cách mập mờ vì sẽ khiến người nghe nhầm lẫn.

[2] Các chuẩn trích dẫn như APA, Chicago… đều có tài liệu hướng dẫn cụ thể và bạn đọc có thể tải về từ internet.

[Book]Tối giản – Hideko Yamashita.

Thông tin sách

Tên sách: Tối giản

Tác giả: Hideko Yamashita

Dịch giả: Phạm Hưng Long

Số trang: 230

Quyết định xuất bản số 80/QĐ-ThG cấp ngày 30/01/2019


Những suy nghĩ sau khi đọc và tóm tắt sách

Quyển sách tôi đang để trước mặt lúc này là quyển Tối giản của tác giả Hideko Yamashita. Nghe thì có vẻ hiển nhiên vì tôi đang viết cảm nhận về nó cơ mà 😊. Thực ra không phải lúc nào viết cảm nhận về những gì tôi đọc được từ một cuốn sách thì nó cũng cần hiện diện ngay trước mặt tôi. Đôi lúc tôi chỉ bất chợt liên tưởng về một vấn đề nào đó vừa nảy ra trong đầu và gõ ngay lên Word Press. Nhưng đa phần những lần như thế thì ý tưởng của tôi sẽ bị “trôi” đi một cách chóng vánh do cái thói xao nhãng của tôi.

Không lòng vòng nữa, tôi sẽ viết ngay đây!

Đây không phải là cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc về lối sống tối giản. Trước đó tôi từng đọc cuốn Nghệ thuật bài trí của người Nhật của Marie Kondo, Lối sống tối giản của người Nhật của Sasaki Fumio và một vài cuốn khác nữa. Song cuốn sách này đã thu hút tôi ngay từ lần đầu bởi vì trang bìa rất đẹp của nó, phải nói là tôi ấn tượng tới mức quyết định mua ngay khi đó. Và khi nhận được sách thì tôi cảm thấy quả thật đó là một quyết định đúng đắn. Khổ sách nhỏ gọn (bằng cỡ của một cuốn sổ tay ghi chú), giấy khá mượt, chữ và hình minh họa được in rõ ràng. Có một đai bằng giấy ôm quanh cuốn sách, và tôi đã gỡ nó ra vì thấy hơi vướng víu. Tờ đánh dấu trang được kẹp vào sách cũng nhỏ gọn như là chính cuốn sách vậy, và có một dòng chữ được in lên trên đó: “Giải phóng không gian sống là cách chúng ta đối xử tốt với bản thân.”

Nội dung của cuốn Tối giản này có phần hơi khác so với hai cuốn sách ở trên. Dù cũng có những lời khuyên cũng như những hướng dẫn để thực hành lối sống tối giản, song theo tôi cảm nhận thì tác giả hướng người đọc vào việc thay đổi tư duy và suy nghĩ ở một tầm cao hơn (đáng tiếc là vẫn chưa vượt qua hẳn) so với thế giới hữu hình – vật chất xung quanh. Hầu hết những người sống tối giản đều cảm nhận được ít nhiều những ảnh hưởng tích cực mà lối sống này đem lại, và tác giả Hideko sẽ giúp chúng ta giải thích kĩ những điều này qua từng nội dung của cuốn sách. Với những ai ưa thích hoặc đang muốn hướng tới một cuộc sống đơn giản hơn, tự do hơn và đầy hứng khởi hơn thì Tối giản là một lựa chọn thực sự phù hợp. Dù bạn có thể không thực hành lối sống tối giản thì tôi nghĩ rằng ít nhất bạn cũng sẽ nhận ra được phần nào đó của ý nghĩa thực sự cho cuộc sống của bạn.

Bạn hãy thử nhìn quanh phòng của bạn, bạn có thấy khá nhiều đồ đạc hay không? Tất nhiên là nhiều rồi, vì bạn đã mua chúng để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau cơ mà! Nhưng bạn còn nhớ lần gần nhất bạn sử dụng chúng là khi nào hay không? Có những thứ bạn sử dụng khá thường xuyên, thậm chí là hàng ngày như quần áo đi làm hay đi học, bình giữ nhiệt, laptop…Những thứ khác thì thi thoảng bạn mới dùng tới như những sổ tiết kiệm, bằng cấp,…Bên cạnh đó, bạn sẽ vô tình bỏ qua khá nhiều vật dụng khác mà bạn chỉ sử dụng đôi lần rồi bỏ mặc chúng bám bụi cho đến tận bây giờ. Đó là những vật dụng không thực sự cần thiết đối với bạn. Nếu bạn không phải là một người có thói quen sưu tập kì dị thì việc giữ lại tất cả những thứ không cần thiết này trông có vẻ hơi khác thường. Bạn không muốn vứt bỏ chúng vì nhiều lí do. Và tôi sẽ liệt kê cho bạn một vài lí do phổ biến nhé:

  • Bạn nghĩ rằng bạn sẽ sử dụng chúng vào một ngày nào đó (mà đó là ngày nào ấy nhỉ?).
  • Bạn đã mua chúng vào đợt giảm giá dù không cần lắm. Nhưng bạn vẫn chưa sử dụng chúng nên nếu bỏ đi thì thật tiếc (đã không thực sự cần thì dùng làm gì nhỉ?)
  • Đó là những món đồ kỉ niệm, những món quà mà bạn được người khác tặng (chà, những thứ này thì hơi khó xử đấy. Nhưng hãy tự hỏi bản thân xem, những món đồ đó đã hoàn thành xong mục đích của nó chưa, và liệu những người tặng có thực sự phiền lòng khi bạn đem cho, tặng hay bỏ món đồ đó đi không?)

Bạn không thể vứt bỏ được những thứ không cần thiết này bởi vì sâu trong suy nghĩ của bạn thì bạn vẫn có cảm giác sở hữu chúng. Cho dù có sử dụng hay không thì chúng là của bạn, và vì vậy bạn sẽ luôn giữ chúng bên mình. Nhưng nếu những đồ vật này không muốn điều đó thì sao? Những thứ mà chúng ta mua hay được tặng đều vì một mục đích ban đầu gì đó. Khi bạn sử dụng và không còn cần chúng nữa thì chúng đã hoàn thành xong mục đích mua hay được tặng. Thậm chí khi bạn không sử dụng và không biết có cần đến chúng hay không thì chúng cũng đã hoàn thành được mục đích tồn tại của chúng – đó là giúp bạn nhận ra điều gì thực sự là cần thiết.

Hãy thử tưởng tượng tình huống sau đây: một người bạn tặng cho tôi một cuốn sách với vài dòng đề tặng. Tôi vui vẻ nhận sách và tự nhủ rằng một ngày nào đó mình sẽ đọc. Tuy nhiên, vì không phải là loại sách mà tôi thích đọc cho nên nó đã ở trên kệ hơn 4 năm và bị phủ một lớp bụi khá dày. Một ngày nọ tôi dọn dẹp kệ sách và thấy nó. Tôi phủi sạch bụi và giở vài trang đầu ra đọc thử. Vẫn không thể nào cảm nhận được nội dung của nó nên tôi đành cất lại lên kệ. Bạn có cảm giác gì khi đọc câu chuyện tưởng tượng ở trên? Và vì bạn cũng không hề liên quan gì đến câu chuyện này, bạn có nghĩ rằng hành động “cất sách” của tôi là phù hợp hay không? Hay bạn cho rằng tôi nên trao tặng cuốn sách đó cho một ai khác cần hơn tôi?

Nội dung chính của Tối giản chính là của triết lí Danshari. Nói một cách dễ hiểu thì Dansahri là “kĩ thuật dọn dẹp giúp chúng ta có thể nhận thức bản thân, sắp xếp lại suy nghĩ hỗn loạn trong đầu và khiến cuộc sống dễ chịu hơn”. Danshari gồm ba hành động kết hợp: Dan (Đoạn) , Sha (Xả)Ri (Li):

  • Đoạn: nghĩa là đoạn tuyệt với những thứ không cần thiết. Ở đây tôi đang nói về việc thay đổi suy nghĩ về những vật dụng xung quanh chúng ta. Nếu bạn nghĩ rằng muốn bỏ một đồ vật gì đó thì chỉ cần vứt nó vào sọt rác là xong thì bạn vẫn chưa đến được gốc rễ của vấn đề. Như đã trình bày ở trên, điều đầu tiên khiến chúng ta khó có thể từ bỏ một thứ gì đó chính là suy nghĩ của chúng ta. Cảm giác tiếc của, cảm thấy lãng phí hay sự hoài niệm về đồ vật mới là vật cản khiến chúng ta không thể thực hành việc buông bỏ được. Như vậy, muốn thực hiện Danshari thì việc đầu tiên phải làm là nhận thức bản thân, xác định lại mối liên hệ giữa chúng ta với đồ vật và nhận ra chủ thể trong mối liên hệ này là chúng ta. Khi đã ở đúng vị trí thì chúng ta sẽ thấy rằng những đồ vật đang hiện hữu quanh ta là nhằm giúp ích cho ta, mang lại niềm vui cho ta và khiến ta thoải mái hơn. Và khi chúng không thỏa mãn tất cả những điều này thì chúng không còn cần thiết nữa. Ta phải giải phóng chúng ta khỏi chúng (và một sự thật thú vị khác là chúng cũng sẽ được giải phóng khỏi chính chúng ta, ha ha) – đoạn tuyệt suy nghĩ về chúng.
  • Xả:nghĩa là vứt bỏ những thứ gây lộn xộn cho không gian sống của chúng ta. Khi đã có được tư duy rõ ràng về những đồ vật xung quanh ta rồi thì bước tiếp theo là thể hiện điều đó bằng hành động. Trước tiên là phân loại, sau đó vứt bỏ hoặc cho tặng những vật dụng không cần thiết, và cuối cùng là sắp xếp lại những thứ cần thiết một cách có khoa học. Nói thì thường dễ hơn làm. Việc vứt bỏ một thứ gì đó không hề dễ dàng, nhất là khi suy nghĩ của chúng ta vẫn chưa thực sự thông suốt. Vì vậy, chúng ta có thể thực hiện Đoạn và Xả nhiều lần cho đến khi đạt được kết quả mong đợi.
  • Li: nghĩa là thoát khỏi mối ràng buộc với thế giới vật chất[1]. Lúc này chúng ta đã đạt nhận thức về mối liên hệ giữa bản nhân và thế giới vật chất hiện tại. Tôi không nói bạn rời bỏ thực tại (chúng ta không nói về vấn đề tâm linh hay triết học ở đây). Mối liên hệ giữa chúng ta với thế giới này là sự hòa hợp cả về tinh thần lẫn thể xác. Ở trên chúng ta đã thể hiện sự đồng điệu về thể xác thông qua việc xác định những gì thực sự cần thiết (phần lượng của mối liên hệ), và đến đây thì chúng ta sẽ cố gắng để dung hòa tinh thần của chúng ta với mọi thứ xung quanh (phần chất của mối liên hệ). Nên nhớ rằng, một khi chưa đạt được sự hòa hợp thực sự thì việc Đoạn và Xả vẫn sẽ tiếp diễn không ngừng. Chúng ta không còn đánh giá một vật là dùng được thì cần được giữ lại mà lúc này chúng ta sẽ biết được bản thân cần sử dụng chúng thì đó là những thứ cần thiết. Không phải là ở quá khứ (những hoài niệm, tiếc của) và cũng không phải là ở tương lai (một ngày nào đó sẽ dùng đến), trục thời gian lúc này được kéo về hiện tại cho chúng ta (sự cần thiết).

Nắm bắt được triết lí Danshari thì chúng ta sẽ dễ dàng thực hiện được lối sống tối giản một cách tự nhiên, từ bỏ mọi dục vọng cũng như những ham muốn vật chất của bản thân.

Quay trở lại nội dung chính của sách, chúng ta sẽ điểm một vài ý chính theo trình tự trình bày của tác giả. Đối với những bạn muốn được hướng dẫn thực hành cụ thể thì tôi nghĩ bạn có thể xem thêm phần tóm tắt cuốn Nghệ thuật bài trí của người Nhật.

Chúng ta sẽ bắt đầu với việc nắm rõ cơ chế trước khi thực hiện Danshari. Trong Danshari, việc dọn dẹp được nâng tầm lên thành những hành động cân nhắc và xem xét mối quan hệ giữa ta và đồ vật tại thời điểm hiện tại, sau đó đưa ra quyết định là giữ lại đồ vật đó hay là bỏ nó đi. Chúng ta thường dọn dẹp một cách vô thức, hay nói chính xác hơn là bỏ qua việc tư duy thực sự về mối liên hệ giữa bản thân ta với không gian sống. Vì vậy, có những trường hợp sau một thời gian vứt bỏ đi những vật dụng (mà chúng ta nghĩ) không cần thiết thì chúng ta lại đem về những thứ tương tự. Kết quả là không có điều gì thực sự được cải thiện, không gian sống của chúng ta lại bề bộn như trước. Chỉ cần lựa chọn một cách cẩn thận những vật dụng phù hợp với cuộc sống của mình thì việc dọn dẹp có lẽ cũng không thực sự cần thiết nữa. Như vậy, việc thực hành dọn dẹp không chỉ gói gọn ở căn phòng của ta mà nó mở rộng ra cả khi chúng ta đi mua sắm đồ dùng nữa. Lúc này, chúng ta sẽ chỉ cần mua những thứ được sử dụng thường xuyên cũng như có thể tận dụng hết chức năng của chúng. Nếu không mua về những thứ không cần thiết thì chúng ta đâu cần nhọc công phải dọn dẹp, phải không nào?

“Đồ vật không được sử dụng sẽ không có ý nghĩa”. Tác giả Hideko đã tổng hợp được ba mối liên hệ giữa cá nhân và đồ vật như sau:

  • “Vật dụng phải được sử dụng”. Nếu không được sử dụng thì nó không thực sự cần thiết và chúng ta cần buông bỏ nó.
  • “Vật dụng hiện tại và bây giờ phải đặt ở nơi cần đến nó”. Khi chúng ta không cần đến những vật dụng này thì cách tốt hơn là nên tặng lại cho những người thực sự cần đến chúng – nơi mà chúng thực sự có ích.
  • “Vật dụng được đặt đúng chỗ sẽ thể hiện vẻ đẹp của chính nó”. Bạn có thể dễ dàng nhận ra điều này đối với những đồ vật là sản phẩm nghệ thuật như tranh, ảnh, tượng, mô hình…khi đến tham quan triển lãm nghệ thuật.

Nhận thức đầy đủ những mối liên hệ này sẽ giúp bạn thực hành Danshari tốt hơn.

Bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu căn nguyên của sự bừa bộn: tại sao lại có nhiều thứ không cần thiết xung quanh ta thế nhỉ? Có nhiều nguyên nhân nhưng hầu hết chúng đều có một xuất phát điểm, đó chính là suy nghĩ ham muốn của chúng ta.

  • Lí do đầu tiên phải kể đến chính là chúng ta thích mua những đồ vật giá rẻ, đặc biệt là lúc chúng đang được khuyến mãi. Có bao giờ bạn mua những thứ mà chưa chắc sẽ sử dụng hay không có khả năng tận dụng hết nhưng vì thấy nó…rẻ nên vẫn mua chưa? Tôi thì có đấy, và bây giờ thì đỡ nhiều rồi 😊. Dị hơn một chút thì chúng ta sẽ có những người lo lắng một cách thái quá về tương lai. Họ thường cố gắng tích trữ nhiều nhất có thể vì sợ rằng không còn dịp nào khác trong tương lai có thể mua được những thứ này.
  • Bạn cần phải ở nhà để dọn dẹp. Và nếu không có mặt ở nhà thì bạn dọn dẹp như thế nào? Bạn có thể thuê người giúp việc nhưng không phải thứ gì bạn cũng có thể để họ dọn dẹp được, nhất là những đồ vật kỉ niệm hay tiền bạc. Những người thường vin vào một cớ nào đó để ra ngoài là họ đang trốn tránh việc dọn dẹp và để không phải đối diện với sự bừa bộn. Nhưng dù trốn tránh thì sự bừa bộn cũng đâu có buông tha cho họ. Hơn thế nữa, sự bừa bộn ngày càng được tích lũy sẽ bóp nghẹt không gian sống của bạn, khiến bạn ngày càng cảm thấy mệt mỏi, bức bối và càng muốn đi ra ngoài nhiều hơn. Một vòng lặp được bắt đầu. Mục tiêu của Danshari là giáo dục về nhà ở và “tiền đề quan trọng nhất của nhà ở là đảm bảo sức khỏe và an toàn”. Sự bừa bộn vi phạm của hai điều trên.
  • Một lí do khá phổ biến khác mà mọi người thường sử dụng khi được hỏi về việc giữ lại những đồ vật không cần thiết đó là sự hoài niệm quá khứ. Có thể bạn không dám thừa nhận nhưng thực tế thì một đồ vật cho dù mang bao nhiêu kỉ niệm đi chăng nữa thì ý nghĩa của chúng cũng sẽ phai mờ dần theo thời gian. Có những mối quan hệ bạn bè từng một thời rất khăng khít thì nay cũng không còn, bạn nghĩ rằng những món đồ kỉ niệm đó sẽ giữ được ý nghĩa ban đầu trong bao lâu? Tôi không nói là chúng ta phải vứt bỏ hết quá khứ. Hãy chọn lọc và chỉ giữ lại những kỉ niệm thật sự có ý nghĩa với chúng ta.

Sau khi đã biết suy nghĩ là ngọn nguồn của sự trì trệ trong Đoạn và Xả thì chúng ta hãy cùng tác giả chấn chỉnh lại tư duy theo Danshari. Lẽ thường thì nhiều người khi bắt đầu dọn dẹp theo phong cách “tối giản” thì họ sẽ bắt đầu vứt bỏ rất nhiều vật dụng, thậm chí cả đồ vật của người khác. Điều này theo Danshari là không đúng. Danshari bắt đầu với việc tự nhận thức mối liên hệ giữa con người và đồ vật, như vậy mỗi người sẽ có những liên kết khác nhau với đồ vật quanh họ. Chúng ta không muốn người khác đối xử với vật dụng của ta như thế nào thì chúng ta cũng không nên làm như thế với đồ vật của họ, “Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân”. Bên cạnh đó, với những đồ vật được sử dụng chung thì cũng không cần để tâm quá nhiều. Thay vì vậy thì chúng ta hãy tập trung vào việc sắp xếp lại sự hỗn loạn của bản thân, sau đó mọi thứ xung quanh chúng ta sẽ bị cuốn vào vòng xoáy Danshari này. Điều này nghe có vẻ hơi mơ hồ nhưng nó giống như việc bạn ngồi giữa những người đồng việc đang chuyên tâm làm việc thì bất giác bạn cũng sẽ tập trung vào công việc của mình vậy. Điều tiếp theo là việc định nghĩa lại sự lãng phí. Lãng phí ở đây không phải là vứt bỏ đồ đạc, nói chính xác hơn thì lãng phí là giữ khư khư những đồ vật không còn dùng đến ở bên mình mà không chịu vứt bỏ hay chuyển giao đến nơi đồ vật thực sự được sử dụng. Sự lãng phí ở đây là sự lãng phí về công năng hay mục đích tồn tại của đồ vật. Khi giữ quá nhiều đồ đạc ở bên mình thì chính bạn sẽ tạo ra một sự thật được gọi là nghịch lí về sự lựa chọn, đó là vì có quá nhiều đồ vật cùng chức năng mà khi cần dùng đến bạn cảm thấy thật khó khăn khi quyết định nên sử dụng thứ nào. Các bạn nữ có lẽ thấu hiểu điều này khi đứng trước tủ đồ đầy ắp quần nào nhưng lại không biết nên chọn bộ nào để mặc đi chơi bạn bè vào một lúc nào đấy. Và điều cuối cùng để biện minh cho việc giữ lại đồ vật là kì vọng rằng mình sẽ sử dụng chúng vào một thời điểm chưa biết trong tương lai. Không ai biết trước tương lai như thế nào cả cho nên phòng hờ trước là một quyết định khôn ngoan. Nhưng tin tôi đi, hầu hết các quyết định này đều không khôn ngoan chút nào. Ý tôi không phải là chúng ta có thể biết được tương lai như thế nào và có biện pháp phù hợp để trù tính cho mọi khả năng xảy ra, như vậy thì tôi sẽ dự trữ được những thứ thật cần thiết. Mà nếu tôi có được khả năng phi thường này thì tương lai đó có lẽ sẽ không xảy ra nữa[2]. Lí do chính xác hơn là do chúng ta đã đánh giá hơi quá đáng các khả năng xảy ra của những tình huống này. Thêm vào đó, chúng ta đều sẽ có được những lựa chọn thay thế tốt hơn (hoặc ít nhất là tương đương) trong tương lai. Một chiếc PS4 đang khuyến mãi 50% ư? Khi Sony tung ra chiếc PS5 thì có lẽ PS4 sẽ chỉ còn nửa giá thôi, mà nửa giá trị ở tương lai chiết khấu về quá khứ thì hẳn nhiên là cao hơn so với nửa giá trị ở quá khứ rồi[3].  

Phần cuối của cuốn sách có nói về những nguyên tắc dọn dẹp được tác giả đúc kết sau nhiều năm thực hành Danshari. Với tôi thì ba nguyên tắc sau đây thực sự là hữu ích.

  • Phân loại đồ đạc thành ba nhóm theo mỗi mức độ. Bắt đầu từ mức độ tổng thể của toàn bộ không gian sống, rồi chia thành ba nhóm theo công năng chính. Rồi từ mỗi nhóm này ta lại chia thành ba nhóm nhỏ hơn theo mức độ hoặc chức năng cụ thể. Rồi cứ tiếp tục như thế cho đến khi tất cả đồ vật đều được phân loại. Lưu ý rằng bạn phải phân loại sau khi đã đoạn tuyệt và vứt bỏ những thứ không cần thiết, nếu không thì bạn sẽ cực kì nản với đống đồ vật chung quanh đấy. Chia hai nhóm thì dễ lẫn lộn, còn nếu chia nhiều hơn ba nhóm thì sẽ hơi khó nhớ.
  • Quy tắc hạn chế tổng lượng 7 – 5 – 1. Không phải là chuỗi số thần thánh gì đâu, đây chỉ là tỉ lệ của không gian cần thiết để cất giữ đồ đạc thôi. Đối với các tủ chứa thì chỉ cần 70% không gian để chứa đồ đạc; đối với các phương tiện cất giữ có không gian mở như giá, kệ, chạn…thì dành 50% không gian để cất đồ; còn với những đồ vật có tính trang trí thì chỉ cần 10% để trưng bày và sử dụng thôi. Khoảng không gian còn lại chính là không gian cho chúng ta “thở” cũng như cho đồ vật “cùng được thở”!
  • Chủ nghĩa vừa phải, biết đủ. Điều này thể hiện khi chúng ta muốn mua sắm thêm các vật dụng cho gia đình. Trước khi quyết định mua một thứ gì đó, hãy chắc chắn là nó thực sự cần thiết. Bạn có thể cần một thời gian tương đối để suy nghĩ kĩ, tìm các giải pháp thay thế từ những đồ vật xung quanh hoặc nhờ sự hỗ trợ từ người khác (có thể một người bạn của chúng ta đang có sẵn vật dụng đó và không còn cần dùng nữa đấy). “Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc”, lời của người xưa thật chí lí.
Điểm đánh giá: 3,0/5

[1] Nội dung trong sách là đề cập đến việc khẳng định cái tôi, thoát khỏi mối ràng buộc với đồ vật và tự do tự tại trong không gian đã được dọn dẹp. Tuy nhiên, tôi muốn nâng tầm suy nghĩ đó lên một bước nên đã chỉnh lại theo ý kiến cá nhân.

[2] Nghe giống như Doctor Strange nói trong Avengers: Infinity war nhỉ, ha ha!

[3] Giá trị của tiền tệ theo thời gian. Khoảng vào những năm 1998 thì chỉ cần 1000 VNĐ là tôi có thể mua được một gói xôi bắp để ăn thì bây giờ (năm 2019) để mua được một gói xôi như thế thì tôi cần tới 15000 VNĐ, cao hơn gấp 15 lần.

[Book]Điểm mù – Max H. Bazerman, Ann E. Tenbrunsel

Thông tin sách

Tên sách: Điểm mù

Tác giả: Max H. Bazerman, Ann E. Tenbrunsel

Dịch giả: Phạm Linh

Số trang: 265

Quyết định xuất bản số 300/QĐ-NXBTN cấp ngày 24/05/2016


Tóm tắt sách và những suy nghĩ sau khi đọc

Trong khi đọc cuốn sách này tôi thường liên tưởng đến một cuốn sách mà tôi đã từng đọc cách đây khá lâu, đó là cuốn Phải Trái Đúng Sai của Michael Sandel. Đó là do hai cuốn đều sử dụng nhiều ví dụ giống nhau. Và những ví dụ này có thể coi là những kinh điển trong lĩnh vực Đạo đức học.

Nói sơ về hình thức cuốn sách thì cuốn sách này được phát hành bởi công ti sách PandaBooks (một cái tên khá mới đối với tôi). Sách khá to bản, bìa mềm, giấy tốt, chữ in to và rõ nét, không lem. Tuy nhiên, trong sách có khá nhiều lỗi chính tả, nhiều đoạn khó hiểu (mà tôi nghĩ là do bị sót nội dung khi dịch), điều này khiến cho tôi khó mà hài lòng được. Hi vọng trong lần tái bản tiếp theo thì những lỗi trên sẽ được khắc phục. Nói chung, nếu bạn không quá khắt khe thì cuốn sách này khá ổn về mặt hình thức.

Như đã nói ở trên, cuốn sách này trình bày các vấn đề liên quan đến đạo đức và bối cảnh chính ở đây là các quyết định trong hoạt động kinh doanh. Điểm mù ở đây chính là sự mơ hồ và thiếu sót khía cạnh đạo đức trong mỗi quyết định được đưa ra với từng cấp độ: cá nhân, tổ chức và xã hội (chính phủ). Tôi xin được chia nội dung của cuốn sách này thành 3 phần:

  • Phần thứ nhất (chương 1-4): giải thích về việc hình thành “điểm mù” đạo đức khi tiến hành ra quyết định.
  • Phần thứ hai (chương 5-7): tiếp cận theo 3 cấp độ: cá nhân, tổ chức và chính phủ.
  • Phần cuối (chương 8): một số gợi ý của nhóm tác giả về việc hạn chế “điểm mù”.
Continue reading “[Book]Điểm mù – Max H. Bazerman, Ann E. Tenbrunsel”

[Book]Bong bóng kinh tế và làn sóng vỡ nợ quốc gia – Michael Lewis.

Thông tin sách

Tên sách: Bong bóng kinh tế và làn sóng vỡ nợ quốc gia

Tác giả: Michael Lewis

Dịch giả: Khánh Trang

Số trang: 330

Quyết định xuất bản số 529/QĐ-NXBLĐXH cấp ngày 31/10/2018


Những suy nghĩ sau khi đọc

Phải nói rằng việc đọc một…lèo nhiều tận bảy quyển sách mà mỗi quyển sách là một chủ đề khác nhau (từ triết học, kinh tế, hùng biện, phong cách sống, tâm lí học, tản văn cho đến thống kê học) là một trải nghiệm thú vị. Thực sự khả năng đọc và tập trung của tôi đã tăng lên đáng kể, một điều đáng mừng đối với tôi. Đôi lúc tôi tự hỏi đọc nhiều như vậy có khi nào bị “ngộ” không nhỉ, nhưng mà thực sự chỉ là chút suy nghĩ vớ vẩn khi nhìn mưa rơi mà thôi, ha ha.

Cuốn sách sau đây mà tôi viết cảm nhận (ngay sau cuốn Hùng biện kiểu TED (1) mà tôi đã đăng cách đây khoảng hai hôm) cũng nằm trong loạt sách mà tôi vừa kể ở trên. Không phải những cuốn sách nào tôi đọc và cảm thấy hay thì tôi đều viết cảm nhận, sự thực là tôi viết theo cảm hứng bất chợt. Vì lúc này đây, khi đang gõ những con chữ này thì tôi đang ngồi uống cà phê ở một quán nhỏ gần nhà, bên ngoài thì trời đang mưa rả rích, tiện có sẵn cuốn sách vừa mới đọc xong nên viết vài dòng, vậy thôi.

Continue reading “[Book]Bong bóng kinh tế và làn sóng vỡ nợ quốc gia – Michael Lewis.”

[Book]Hùng biện kiểu TED(1) – Chris Aderson.

Thông tin sách

Tên sách: Hùng biện kiểu TED – Bí quyết diễn thuyết trước đám đông “chuẩn TED”

Tác giả: Chris Aderson

Dịch giả: Hồng Hạnh

Số trang: 446

Quyết định xuất bản số 221/QĐ-ThG cấp ngày 05/03/2018


Những suy nghĩ sau khi đọc

Công việc chính của tôi là giảng dạy và việc đọc sách vừa là “nhiệm vụ” vừa là sở thích, cho nên bạn sẽ thấy tôi đọc khá nhiều loại sách. Có những quyển tôi sẽ cố gắng truyền tải lại toàn bộ nội dung, có những quyển tôi chỉ ghi lại những ý chính mà tôi cho rằng đáng đọc. Thường thì tôi đi theo một kiểu trình bày nhưng hôm nay tôi sẽ “dở chứng” theo một kiểu mới.

Continue reading “[Book]Hùng biện kiểu TED(1) – Chris Aderson.”