[Book]Hành trình về Phương Đông

Thông tin sách

Tên sách: Hành trình về Phương Đông

Tác giả: Baird T. Spalding

Dịch giả: Anlebooks

Số trang: 863

Quyết định xuất bản số 276/QĐ-NXBPĐ cấp ngày 13/06/2016


Cảm nhận của bản thân

Vốn dĩ tôi định viết tóm tắt cho quyển này vì dù không cảm thấy ưng lắm nhưng cũng đã đọc rồi. Song, cuối cùng thì tôi quyết định là không viết nữa. Bởi nếu có viết thì tôi cũng không muốn đọc lại lần thứ hai.

Về hình thức thì đây là một quyển bìa cứng, trình bày cũng tương đối đẹp, giấy tốt, chữ in cũng rõ và không bị lỗi gì đáng kể. Phần gáy sách được làm khá ổn nên không bị tách rời ra như nhiều quyển sách đóng gáy tương tự mà tôi từng đọc. Nói chung thì hình thức của quyển này là ổn.

Về nội dung thì có quá nhiều điểm để nói, nhưng chung qui lại thì có vài điều như sau. Thứ nhất, các soạn giả có lẽ đã quá chú trọng vào mặt chữ nên dịch sát nghĩa nhưng (có lẽ) không thoát được ý nên câu văn lủng củng, khó hiểu và liên kết giữa các đoạn không rõ ràng. Thứ hai, cái này thì tôi cho là do bản gốc, đó là nội dung có quá nhiều điều đáng nghi (mà tôi phải liên tục ghi chú kế bên) về các sự kiện cũng như các sự kiện được đề cập xuyên suốt các phần. Có những chi tiết thì đề cập một cách chung chung, không rõ ràng nhưng vì chủ đề của cuốn sách là về tâm linh, tôn giáo nên tôi cũng không nghĩ nên quá cụ thể. Tuy nhiên, có những nhân vật với tên họ đầy đủ thì việc kiểm chứng cho thấy nhiều người trong số họ không hề được nhắc đến ở bất cứ tài liệu nào khiến cho tôi thực sự nghi ngờ về sự tồn tại của những con người này. Bên cạnh đó, với các cuộc khảo sát hay thí nghiệm thì cũng không thực sự đáng tin và có phần vô lí. Nhiều thí nghiệm hiện đại đã chứng minh một số vấn đề được mô tả trong sách là không đúng. Thứ ba, tôi thấy bản thân tác giả cũng cường điệu hóa nhiều chuyện, có cái nhìn không thực sự khách quan (như việc đánh giá về nhóm người Nhật hay sự ưu việt của người da trắng) cho nên phải đánh giá lại toàn bộ xem tác giả có thực sự công tâm khi thực hiện cuộc hành trình này hay không nữa. Và có một điều tôi nghĩ cần phải làm rõ về tên của tác phẩm. Bản gốc tiếng Anh của cuốn này là Life and Teaching of the Masters of the Far East, không phải là cuốn Journey to the East được dịch ngược từ cuốn tiếng Việt của tác giả Nguyên Phong vốn có tên là Hành trình về phương Đông. Như vậy, tôi cũng không thực sự hiểu là tại sao Nhà xuất bản Phương Đông lại lấy cái tên Hành trình về phương Đông để đặt cho cuốn này. Nên nhớ là mặc dù dựa vào bản gốc của tác giả Spalding để viết nhưng tác giả Nguyên Phong đã phóng tác rất nhiều cho nên quyển Hành trình về phương Đông của ông thực sự quá khác biệt nếu không muốn nói là một tác phẩm khác, không liên quan gì nhiều đến tác phẩm của Spalding. Hơn thế nữa, nội dung của cuốn gốc thì đề cập nhiều đến Đạo Thiên Chúa, trong khi cuốn của tác giả Nguyên Phong lại nói về Đạo Phật. Lời khuyên cho những bạn nếu có ý định đọc thì hãy tìm đọc cuốn của tác giả Nguyên Phong với lời văn gần gũi, đơn giản và rõ ràng hơn nhiều. Còn nếu muốn thử thách bản thân thì có thể tìm đọc cuốn này :))

Điểm đánh giá: 1,0/5

 

 

 

Advertisements

[Book]Ngũ Luân Thư.

Thông tin sách

Tên sách: Ngũ Luân Thư

Tác giả: Miyamot Musashi

Dịch giả: Bùi Thế Cần

Số trang: 206

Quyết định xuất bản số 691/QĐ-ThG cấp ngày 20/06/2018


Cảm nhận của bản thân

Phải nói là nội dung sách không nhiều, chỉ khoảng 200 trang. Thêm vào đó, nội dung của mỗi mục cũng rất ngắn gọn, có khi chỉ khoảng 1/4 trang giấy, và kèm theo lời dẫn, lời bạt cũng như giới thiệu về sách nên nếu gói gọn lại thì có khi chỉ được hơn trăm trang. Phần chữ được trình bày trong khoảng 2/3 trang giấy (tính theo chiều dọc), 1/3 phần còn lại được trang trí bởi một phần của một bức họa thủy mặc, trông khá hay!

Có tất cả 5 quyển được đặt tên theo 5 yếu tố: Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không. Địa chi quyển trình bày đạo binh pháp theo quan điểm Nhất Lưu. Thủy chi quyển nói về tinh thần của kiếm sĩ Nhất Lưu. Hỏa chi quyển mô tả kỹ thuật và phương pháp đấu kiếm thực chiến. Phong chi quyển thì làm rõ sự khác biệt giữa môn phái Nhất Lưu với các môn phái khác. Và Không chi quyển chỉ ra con đường tu luyện chính đạo bằng cách hòa hợp với tự nhiên – Đạo của Không.

Tuy vậy, ý nghĩa của những lời chỉ dẫn về cuốn binh pháp này có thể được diễn giải ra bên ngoài việc luyện kiếm của Musashi, cho nên không dễ nắm bắt hết nếu chỉ đọc 1-2 lần. Đối với cuốn sách này, tôi sẽ không tóm tắt lại theo suy nghĩ của tôi (vì sợ rằng sẽ làm sai lệch đi ý của tác giả, vốn có thể đã bị lệch đi ít nhiều so với bản gốc) mà sẽ trích dẫn những đoạn mà tôi thấy tâm đắc nhất và phù hợp với bản thân mình.

Một cuốn sách nhỏ, nội dung ngắn gọn nhưng súc tích. Mặc dù là tác phẩm binh pháp của Kiếm thánh Musashi, nhưng hàm ý trong đó thực sự vượt ra ngoài các mặt chữ. Khó lòng mà cảm nhận hết được ý tứ được trình bày trong Ngũ Luân Thư nếu chỉ đọc một lần. Vì thế, cần một thời gian nghiền ngẫm tương đối cũng như thực hành nhiều lần trong thực tế để có thể lĩnh hội một cách đầy đủ.

Điểm đánh giá: ???/5

Continue reading “[Book]Ngũ Luân Thư.”

[Book]Siêu dự báo.

Thông tin sách

Tên sách: Siêu dự báo – Những phương pháp dự đoán trên tầm chuyên gia

Tác giả: Philip E. Tetlock, Dan Gardner

Dịch giả: Lê Thiện Trí

Số trang: 382

Quyết định xuất bản số 184/QĐ-ThG cấp ngày 22/02/2018


Cảm nhận của bản thân

Đây là một cuốn sách hay, đặc biệt nếu bạn là người có hứng thú với một trong những công việc “đời thường” nhất nhưng cũng đầy tính thách thức. Mỗi người đều đưa ra hàng tá  quyết định mỗi ngày, và những quyết định này phần nhiều dựa trên các phán đoán của họ về việc điều-gì-sắp-xảy-đến. Ai trong chúng ta cũng là một nhà dự báo, nếu xét về một phương diện nào đó. Nhưng không phải ai cũng là chuyên gia dự báo. Và càng hiếm người được gọi là những “siêu dự báo gia”. Cuốn sách này đề cập đến những người như thế.

Cuốn sách mà tôi đọc là một bản bìa mềm của NXB Thế Giới. Sách khá to (tầm 25cm x 15cm), giấy khá tốt, chữ in rõ và không có gì đáng phàn nàn về chất lượng của bản in này cả. Một vài chỗ trong sách bị lỗi (ví dụ lỗi về số trang của hình minh họa trong quyển gốc chưa được sửa theo đúng như bản dịch, sai chính tả) nhưng thực sự không nhiều nên chấp nhận được.

Nội dung sách xoay quanh việc giải thích cách mà các nhà siêu dự báo tư duy, thực hiện và đưa ra các phán đoán với mức độ chính xác đáng kinh ngạc đến mức khó tin, ngay cả đối với các chuyên gia dự báo. Tác giả lần lượt trình bày theo một tiến trình tìm hiểu từ các đặc điểm tổng hợp thành một cá nhân, rồi xây dựng nên một nhóm gồm các “siêu dự báo gia”. Họ là những người bình thường đúng nghĩa. Các đặc điểm được trình bày cũng không phải là cá biệt hay bẩm sinh mà là có thể rèn luyện được. Hay nói cách khác, mỗi người chúng ta đều có thể trở thành một nhà siêu dự báo, miễn là chúng ta biết cách kết hợp hợp lí các đặc điểm trên và kiên trì theo đuổi con đường đó. Và dù bạn không hứng thú gì với việc đưa ra các dự báo thì ít nhất cuốn sách cũng cho bạn một lí do để tự hoàn thiện bản thân mình.

Điểm đánh giá: 3,0/5

Continue reading “[Book]Siêu dự báo.”

[Book]Nghệ thuật theo đuổi sự đơn giản.

Thông tin sách

Tên sách: Nghệ thuật theo đuổi sự tối giản

Tác giả: Greg McKeown

Dịch giả: Bảo Thư

Số trang: 319

Quyết định xuất bản số 145/QĐ-NXBLĐXH cấp ngày 11/05/2018


Cảm nhận của bản thân

Đây là một cuốn sách bìa mềm, khổ giấy nhỏ (tương đương với một quyển sách tham khảo bình thường, cỡ 20×15). Vì cỡ chữ khá lớn nên mặc dù sách có hơn 300 trang nhưng tôi chỉ cần chưa tới 5 tiếng để đọc xong toàn bộ nội dung.

Cuốn sách được chia làm bốn phần dẫn dắt người đọc đi từ những vấn đề cơ bản nhất về sự tối giản (theo quan điểm của tác giả). Từ việc trình bày những định nghĩa cơ bản cho đến lợi ích có được từ việc cuộc sống tối giản bằng cách tìm thấy ý nghĩa trong những hành động loại bỏ để tìm thấy những gì thực sự cần thiết trong cuộc sống của mỗi người, và cuối cùng là việc biến tất cả những điều đó thành hành động.

Theo tôi thì người đọc có thể đọc bất kì phần nào trước cũng được, vì nội dung của các phần cũng không hẳn là liên quan chặt chẽ cho lắm. Cá nhân tôi thì bắt đầu đọc từ phần 4 trước, sau đó ngược dần về trước với phần 3, phần 2 rồi mới đến phần 1. Có một điều mọi người nên biết khi đọc về phần cảm nhận này, đó là trước khi đọc sách của Greg McKeown thì tôi đã có đọc một vài sách khác có liên quan đến lối sống tối giản của người Nhật (trong đó có cuốn Nghệ thuật bài trí của người Nhật của Marie Kondo) nên góc nhìn của tôi cũng bị ảnh hưởng đôi chút.

Nội dung sách nhằm giới thiệu cho người đọc những quan điểm của tác giả về sự tối giản và hướng dẫn mọi người cách để đạt được điều đó. Song, có lẽ do khác biệt về hệ qui chiếu, tôi cảm thấy rằng tác giả trình bày khá nhiều đặc điểm mà tôi không nghĩ đó là những đặc trưng của cái gọi là “sự tối giản”. Nếu có thể gọi là “Làm thế nào để buông bỏ những áp lực và hướng tới một cuộc sống đơn giản hơn” thì có vẻ hợp lý hơn.

Điểm đánh giá: 2,5/5

Continue reading “[Book]Nghệ thuật theo đuổi sự đơn giản.”

[Book]Tên của đóa hồng

Thông tin sách

Tên sách: Tên của đóa hồng

Tác giả: Umberto Eco

Dịch giả: Lê Chu Cầu

Số trang: 552

Quyết định xuất bản số 1086/QĐ-VH của Nhà xuất bản Văn Học ngày 07/06/2016


Cảm nhận của bản thân

Trước khi mua cuốn tiểu thuyết này thì tôi đã tham khảo khá nhiều bình luận về nó. Một phần vì tôi chưa biết tác giả Umberto Eco là ai cả, trước giờ tôi đọc tiểu thuyết trinh thám thì cũng chỉ của Athur Conan Doyle, Agatha Christie hay Dan Brown và một vài cuốn của các tác giả Trung Quốc. Phần khác là vì dạo gần đây tôi không có hứng thú với tiểu thuyết nên cũng cảm thấy hơi uổng nếu không hợp “gu”.

Và tôi cảm thấy khá hài lòng khi nhận được sách. Bìa sách được trang trí khá đẹp, đặc biệt là tên tiểu thuyết được trình bày theo kiểu chữ Gothic nằm ở chính giữa một khung được trang trí bởi những họa tiết với gam màu ấm càng làm tăng thêm vẻ huyền áo của tác phẩm. Tuy vậy, sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này thì có lẽ bạn sẽ cảm thấy khung trang trí này quá đơn giản so với những hình ảnh được mô tả trong tác phẩm (do tôi kì vọng rằng nó cần phức tạp và kì lạ hơn chăng!?). Nhã Nam đã làm khá tốt việc thiết kế cho tác phẩm này, tuy nhiên nếu đóng bìa cứng cho nó thì giá trị của cuốn sách sẽ được tăng lên đáng kể :)).

Nội dung của sách xoay quanh những chuyện xảy ra trong 7 ngày Adso (người kể chuyện, lúc này đang còn là chủng sinh) và thầy William của Adso ở tại một tu viện dòng Benedict cổ xưa nằm ở trên triền dãy Apenin nước Ý. Người kể chuyện đã chia câu chuyện của mình thành 7 phần tương ứng với 7 ngày ở tu viện, kèm theo những lời tóm tắt cho những sự kiện chính xảy ra theo trình tự thời gian là các buổi kinh lễ hàng ngày của tu viện này từ sớm cho đến đêm.

Tên của đóa hồng chứa đựng rất nhiều những câu chuyện, những điển tích của Cơ Đốc Giáo cũng như các tôn giáo có liên quan khác. Vì vậy, hẳn phải có những hiểu biết nhất định về những tôn giáo này thì người đọc mới có thể lĩnh hội một cách trọn vẹn tác phẩm. Riêng phần tôi, tôi chỉ tập trung vào những diễn biến và suy luận trong tác phẩm nên không bình luận nhiều về những vấn đề trên. Tuy nhiên, những đoạn liệt kê hay mô tả quá dài dòng về những hình ảnh, biểu tượng và các tích chuyện tôn giáo là điểm trừ của tác phẩm đối với tôi. Bên cạnh đó, nhân vật thầy William thì có vẻ gì đó giống thám tử Sherlock Holmes phiên bản “nói hơi nhiều”, còn cách Adso kể lại câu chuyện mang hơi hướm mà tôi thấy tương đồng với Agatha Christie.

Điểm đánh giá: 3,0/5

Continue reading “[Book]Tên của đóa hồng”

[Book]Đạo quân Trung Quốc thầm lặng – Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo

Thông tin sách

Tên sách: Đạo quân Trung Quốc thầm lặng

Tác giả: Juan Pablo Cardenal, Heriberto Araújo

Dịch giả: Nguyễn Đình Huỳnh

Số trang: 366

Quyết định xuất bản số 1539/QĐ-NXBHNV cấp ngày 11/10/2016


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Tôi được thầy tôi giới thiệu cuốn sách này (trước đó ông cũng khuyên tôi tìm đọc cuốn Tư bản thân hữu Trung Quốc) và lập tức tìm mua trên mạng vì những đánh giá hấp dẫn của ông.

Ở chương đầu tiên của cuốn sách, tác giả đã cho ta thấy một sự di cư của người dân Trung Quốc sang các quốc gia khác ra trong vài thế kỉ qua và những lợi ích mà “đế chế” này nhận được từ làn sóng di dân này. Người Trung Quốc đã di cư và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh ám muội tại các quốc gia kém và đang phát triển. Lí do họ lựa chọn những nước này là vì pháp luật lỏng lẻo và nhiều cơ hội làm ăn cho họ. Bên cạnh đó, chính quyền Trung Quốc cũng được lợi từ sự di dân này trong việc đối phó với nạn thất nghiệp và giảm căng thẳng xã hội đang tồn tại trong nội bộ quốc gia. Hơn thế nữa, những người dân di cư này thường trở về sau đó với một số vốn đáng kể để đầu tư vào giáo dục con cái hay kinh doanh cho Trung Quốc.

Một điều đáng chú ý khi nói đến cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài chính là mối liên hệ mạnh mẽ giữa họ. Một ví dụ điển hình là nếu có một người Trung Quốc muốn kinh doanh thì những đồng hương của anh ta sẽ sẵn sàng giúp đỡ cho dù họ không có mối quan hệ gia đình hay sắc tộc gì cả. Đối với mỗi người dân Trung Quốc thì Trung Quốc là một nhà nước – nền văn minh (không phải là nhà nước – quốc gia như suy nghĩ của những người dân ở các quốc gia phương Tây), và do đó, ý thức thuộc về nền văn hóa – truyền thống với lịch sử lâu đời của họ sẽ không biến mất dù họ có cư trú trên một lãnh thổ có nền văn hóa – xã hội khác. Ý thức chủ nghĩa dân tộc mà Bắc Kinh thúc đẩy trong nhân dân đã lan ra khỏi biên giới Trung Quốc và xâm nhập vào tất cả cộng đồng của họ ở nước ngoài. Những cộng đồng này đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính cho sự phát triển tại chính quốc, và được biết với tên gọi “Hội Trung Hoa vĩ đại”. Một vấn đề khác, nó như là lo lắng của nước Nga hơn, là nỗi sợ về một cuộc xâm lăng thầm lặng trong tâm trí người Nga đối với anh bạn láng giềng phương Nam này khi chứng kiến một Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Những hoạt động kinh doanh bất chấp của thương nhân Trung Quốc ở nước ngoài được hai giả trình bày thông qua các mẩu chuyện là nội dung chính của chương hai. Quốc gia đầu tiên được đề cập là Kazakhstan, cửa ngỏ vào Trung Á của Trung Quốc. Đất nước này gần như bị phụ thuộc hoàn toàn vào hàng hóa của Trung Quốc (một phần là do hệ thống giao thông kém phát triển, mà nếu có cải thiện thì cũng chỉ mang lại lợi ích cho lái buôn Trung Quốc). Khu vực Tân Cương cũng được Trung Quốc đầu tư đáng kể nhằm hai mục đích chính: i) ổn định tình hình chính trị tại đây và ii) tạo ra thêm các cơ hội giao thương trong và ngoài Trung Á. Sở dĩ Trung Á là mục tiêu của Trung Quốc trong những năm gần đây được các tác giả phân tích là do nhu cầu nguyên liệu cũng như lợi ích thương mại cho sự phát triển thần kì của Trung Quốc sau khi nước Nga để lại khoảng trống quyền lực ở những nơi này. Đối với Iran, Trung Quốc đang chơi một nước cờ đôi, một mặt vẫn tiếp tục lợi dụng các cơ hội kinh doanh với nước này, mặt khác lại phải thể hiện trách nhiệm của một “nước lớn” trên các diễn đàn quốc tế. Rõ ràng là Iran cũng biết những rủi ro từ Trung Quốc, và rằng mối quan hệ này là bất ổn nhưng họ không có nhiều lựa chọn. Hồng Kông là một đáp án tạm thời cho cả hai khi mà phần lãnh thổ này giờ đây đã “thuộc” về Trung Quốc (Một quốc gia, hai chế độ) nhưng vẫn duy trì được các quyền lợi từ các kí kết có từ thời bị Anh đô hộ. Tình hình với Dubai thì khá hơn một chút, khi mà Dubai vẫn nắm trong tay quyền lực tương đối để kiểm soát và đảm bảo cân bằng hơn khi làm ăn với những thương nhân người Trung Quốc. Ở Châu Phi, Trung Quốc đang cố gắng tái tạo lại mô hình kinh tế Châu Âu thuộc địa mà Đế quốc Anh đã thực hiện vào thế kỉ 19 thông qua việc tận dụng những mối quan hệ để kinh doanh (một cách không hợp pháp) tại những quốc gia kém phát triển. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, người dân ở các nước Châu Phi có cơ hội tiếp cận hàng hóa từ Trung Quốc và Trung Quốc ngay lập tức tận dụng các bảo hộ luật pháp từ WTO để phổ biến hàng hóa của mình ở những nước này. Nhưng, phân tích sâu hơn thì ta thấy đây là một trò chơi một chiều mà lợi ích luôn thuộc về Trung Quốc: họ nhập tài nguyên thiên nhiên từ các quốc gia Châu Phi sau đó xuất khẩu thành phẩm trở lại các quốc gia này với số lượng lớn hơn nhiều (nôm na là nhập khẩu nguyên liệu để làm 1 cái áo nhưng lại xuất khẩu 10 cái áo). Hậu quả là nhiều ngành công nghiệp ở các quốc gia này bị sụp đổ khiến cho việc phụ thuộc vào hàng hóa của Trung Quốc càng ngày càng trầm trọng. Còn ở Argentina, những người nhập cư Trung Quốc thâm nhập vào lĩnh vực siêu thị đầy hấp dẫn và kiểm soát gần như toàn bộ tại đây. Cùng một cách thức như những nơi khác, sử dụng những qui ước xã hội lâu đời, cộng đồng người Trung Quốc đã dựng lên các cửa hàng nhờ sự giúp đỡ từ các đồng hương và phát triển mạng lưới này (một cách không chính thức) thành công. Tóm lại, cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài đã tận dụng mọi cơ hội kinh doanh tại các quốc gia phát triển kém hơn, những quốc gia không được phương Tây và Nga chú trọng, để tạo ra ảnh hưởng của mình từ mọi phương diện, từ người sản xuất cho đến khách hàng. Và những người Trung Quốc này cũng không ngại (hay có thể nói khác đi là họ thích) sử dụng các phương thức kinh doanh không chính thống, các mối quan hệ không minh bạch cũng như lờ đi các qui định pháp luật của nước sở tại để làm giàu.

Vậy, Trung Quốc đã và đang làm gì tại các quốc gia kém và đang phát triển? Câu trả lời có ở chương ba và chương bốn: khai thác tài nguyên và mang về Trung Quốc. Chỉ vậy thôi. Hãy điểm qua một vài quốc gia được đề cập trong hai chương này:

  • Myanmar: ở Myanmar có hai thứ mà lái buôn Trung Quốc rất thích, đó là gỗ rừng và đá quí. Nói về gỗ thì người dân ở Kachin (1 bang của Myanmar) có lẽ là những người thấu hiểu hơn hết khi họ đã chứng kiến những gì mà các doanh nghiệp Trung Quốc đã làm với những cánh rừng ở nơi đây. Còn đối với đá quí, đặc biệt là đá ngọc bích hoàng đế, lái buôn Trung Quốc cũng tiếp cận với một cách khá tồi tệ không kém: tiếp cận nguồn hàng và sau đó loại bỏ dần các trung gian để hưởng lợi “dày”. Bên cạnh đó, việc khai thác khoáng sản thiếu trách nhiệm của các công ti Trung Quốc ở Myanmar đã gây ra nhiều hệ lụy về xã hội như ma túy, mại dâm, sức khỏe người dân và môi trường tự nhiên. Song, đây không phải là sự đánh đổi cho tương lai nào hết. Vì các quá trình sản xuất và chế biến đề ở Trung Quốc nên Myanmar chỉ giống như là sân bãi khai thác mà thôi. Trung Quốc thực sự đã lợi dụng rất tốt những khó khăn của Myanmar do các biện pháp trừng phạt quốc tế gây ra cho quốc gia này cũng như củng cố lợi ích địa chính trị để củng cố quyền lợi của họ ở nơi đây.
  • Peru: Trung Quốc đã sử dụng các công ti nhà nước như là một con bài chiến lược trong việc tiếp cận các mỏ khoáng sản tại quốc gia này. Một mặt, các công ti này thể hiện vai trò là những nhà đầu tư vô trách nhiệm với môi trường. Mặt khác, chúng lại được miễn trừ trách nhiệm vì lí do chính trị và đặc quyền ngoại giao có được từ vị thế của Trung Quốc.
  • Congo: tại quốc gia cực kì bất ổn về chính trị và kinh tế này, Trung Quốc cũng chơi chiêu bài “đầu tư vốn lớn trong dài hạn” như nhiều quốc gia khác. Lí do khá đơn giản: thứ nhất, về dài hạn thì lợi ích của các tài nguyên này cho Trung Quốc sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra ban đầu; thứ hai, các khoản thuế ưu đãi được ghi trong các hợp đồng với Congo sẽ khiến các khoản thuế ưu đãi chảy vào túi của các doanh nghiệp liên doanh (mà Trung Quốc nắm phần lớn vốn); và cuối cùng, Trung Quốc đóng vai trò ở tất cả các khâu, từ người cho vay, người bán cho đến khách hàng, và do đó họ sẽ khống chế được phần định giá để có thể mua những tài nguyên này với giá rẻ mạt. Điều đáng buồn là những công trình cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc hứa hẹn như là một phần trong các “thỏa thuận hợp tác” lại không hề phát huy tác dụng như kì vọng. Đầu tư cơ sở hạ tầng làm gì nếu như không đào tạo những người có đủ năng lực tiếp quản và sử dụng chúng cơ chứ?
  • Turmenistan, Kazakhstan, Sudan, Iran, Angola Venezuela có gì mà Trung Quốc thèm muốn? Đó là “vàng đen” – dầu mỏ. Các quốc gia này đều mang những đặc điểm chung: dự trữ dầu mỏ lớn, bị cấm vận bởi Mĩ và phương Tây và mức độ tham nhũng cao. Đặc điểm thứ nhất là lí do chính mà các công ti Trung Quốc tìm đến những quốc gia này: nguồn cung cấp dầu mỏ dài hạn cho sự phát triển của Trung Quốc. Đặc điểm thứ hai tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc tiếp cận và lấp đầy những khoảng trống mà các công ti phương Tây để lại và nó cũng mang lại lợi thế trở thành “lựa chọn duy nhất” cho Trung Quốc. Đặc điểm thứ ba được Trung Quốc sử dụng như là cách thức vận hành và được thừa nhận ngay trong các bảng cân đối kế toán của các công ti Trung Quốc. Việc mua bán dầu mỏ với Trung Quốc không chỉ mang lại nguồn lợi tài chính mà cả về quân sự cho Sudan. Còn đối với Iran thì lợi thế về quan hệ chính trị cũng như sức mạnh tài chính đã bù đắp những thiếu sót, yếu kém trong công nghệ khai thác và chế biến dầu mỏ của Trung Quốc. Tại Angola, Trung Quốc đã phá hỏng những kế hoạch và nỗ lực của các tổ chức tín dụng quốc tế nhằm gây ra áp lực buộc quốc gia này phải cải tổ để có thể tiếp cận các khoản vốn vay bằng những “tờ séc quyền lực” của mình. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Trung Quốc đang tạo thêm nợ chứ không hề có ý cải thiện bất cứ điều gì cho quốc gia này. Các cơ sở hạ tầng được xây dựng một cách chậm chạp và không có chút tiến triển gì nhiều năm liền trong khi dầu mỏ vẫn được xuất khẩu đều đặn sang Trung Quốc để trả nợ (mà nợ cái gì ấy nhỉ?). Venezuela lại là một ví dụ cực đoạn khác do những lệnh trừng phạt của Mĩ và phương Tây, những chính sách này khiến cho Trung Quốc trở thành “hàng xóm tốt bụng” của đất nước được mô tả là “lắm tiền, nhiều tài nguyên nhưng dễ dụ” này.

[Book]Ngôn ngữ của Chúa – Francis S.Collins

Thông tin sách

Tên sách: Ngôn ngữ của Chúa

Tác giả: Francis S.Collins

Dịch giả: Lê Thị Thanh Thủy

Hiệu đính: Nguyễn Cảnh Bình

Số trang: 350

Quyết định xuất bản số 501/QĐ-ThG cấp ngày 07/05/2018


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Mở đầu sách bằng câu chuyện chuyển từ một người tôn sùng chủ nghĩa vô thần sang một người có đức tin của chính tác giả. Và một trong những nhà tư tưởng đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của Collins trong quá trình này là C. S. Lewis (mà ta sẽ thấy rằng trong những phần sau của tác phẩm, Collins thường trích dẫn Lewis cho nhiều vấn đề nan giải).

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại của Chúa, và Collin đã giải thích cho người đọc rằng Người là có thực bởi 4 lí do sau đây:

  • Chúa không phải là ảo tưởng vì có một nơi trong tâm trí của chúng ta bị “thiếu”, như sự khao khát mãnh liệt về một điều gì đó mới mẻ, và nó sẽ (cà cần) được lấp đầy bởi hình tượng Chúa.
  • Bản thân tôn giáo là tốt nhưng những người thực hiện là chưa tốt, do đó ta không nên phê phán tôn giáo. Về vấn đề này, tôi có một thắc mắc: ví dụ về CNXH ở Nga và Trung Quốc thì có khác gì đâu, tại sao tác giả lại chú ý về tính vôn thần của nó và qui kết thất bại của CNXH ở hai quốc gia này cho nó?
  • Không phải Chúa không yêu thương con người mà là do con người tự gây ra cho nhau những đau khổ và việc can thiệt tự do ý chí của con người sẽ dẫn đến hỗn loạn trật tự vũ trụ (giống việc Flash cứu mẹ nhỉ 🙂 ). Và những trải nghiệm đau  khổ sẽ giúp con người tìm ra và cảm nhận những điều đối lập tích cực hơn.
  • Điều kì diệu (điều kì diệu thực sự, không phải những thứ tầm thường được phóng đại lên) là một trong các biểu hiện cho sự tồn tại của Chúa.

Phần tiếp theo tác giả đã đi ngược tiến trình tiến hóa để lí giải sự hình thành sự sống và sự tồn tại của loài người. Bắt đầu bằng việc vũ trụ được hình thành có vẻ không chỉ đơn giản là do ngẫu nhiên. Có nhiều bằng chứng củng cố cho Thuyết Big Bang cũng như những lập luận chỉ ra những điều không thể lí giải được bởi Thuyết này. Tác giả đã chỉ ra ba kịch bản có thể cho các trường hợp này.

Trước hết, yếu tố “tình cờ” đã hình thành sự sống trong một vũ trụ độc nhất, là vũ trụ mà chúng ta đang sống. Tác giả cho rằng điều này là khó có thể xảy ra nhất và do đó, loại bỏ nó. Một lập luận khác về “đa vũ trụ” có thể gia tăng khả năng xảy ra điều này thì vẫn khiến tác giả khó tin vào sự may mắn của nhân loại khi được xuất hiện và tồn tại trong vũ trụ này (ông vẫn để ngỏ khả năng này). Cuối cùng, sự xuất hiện của Chúa có vẻ sẽ giải quyết những câu hỏi về sự khởi nguyên của vũ trụ tốt hơn cả. Mặc dù những kiến thức khoa học gần đây đã bác bỏ Thuyết quyết định khoa học (việc này thường xảy ra trong lịch sử phát triển của khoa học), giả định rằng Chúa đã thực sự hiện diện trong lịch sử hình thành và phát triển vốn cũng mong manh không kém, theo ý kiến của tôi. Nếu một người nào đó, bằng một cách ngẫu nhiên nào đó, nó rằng giá xăng sẽ tăng và quả thực giá xăng ngày mai tăng thì điều đó có chứng minh rằng người đó có khả năng tiên tri hay không? Tôi nghi ngờ điều này!

Đi sâu hơn vào nguồn gốc của sự sống trên Trái Đất tác giả chỉ cho ta thấy rằng sự vận hành của tự nhiên quá tức tạp đến mức đáng ngờ (rằng chọn lọc tự nhiên khó mà có thể tạo ra những gì phức tạp và tinh tế đến vậy!?). Những phát kiến của sinh học sau này đã giải quyết vấn đề trên: ADN, ARN và protein. Quá trình ARN thông tin được sao chép từ một ADN (nếu ví ADN là một cái thang được dựng lên từ các tổ hợp của hai cặp bazo A-T và G-C thì ARN chỉ là một nửa bên của cái thang này) chuyển những thông tin này sang một protein nhất định đã góp phần lí giải cho những lí luận trước đó về nguồn gốc các loài của Darwin và Wallace hay những thí nghiệm về di truyền của Mendel và Garold. Như vậy, tiến hóa là một cơ chế. Và vậy thì, vai trò của Chúa ở đây là gì?

Lần ngược tiến trình giải mã gen người của nhân loại ta thấy sự khó khăn của hơn 2000 nhà khoa học hàng đầu làm việc tại 6 trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới ròng rã hơn 10 năm. Thật may mắn khi họ quyết định công bố những thông tin này cho mọi người miễn phí (mặc dù vậy, tôi vẫn nghĩ việc Celera của Venter tham gia vào quá trình giải mã gen với tuyên bố sẽ đăng kí sở hữu tư nhân những thông tin sau khi giải mã đã thúc đẩy tiến trình này). Sau khi giải mã thành công bộ gen người, nhiều phát hiện mới khi những nhà nghiên cứu cố gắng đọc bản “hướng dẫn cho loài người” này:

  • Ở cấp độ ADN, ta thấy có những tương đồng đáng kể giữa những cá thể người cũng như giữa con người với các loài khác. Điều này đã ủng hộ Thuyết tiến hóa trên cơ sở chọn lọc tự nhiên của Darwin.
  • Khi so sánh trình tự ADN của con người với các sinh vật khác, ta cũng thấy có sự tương đồng rất cao. Những khác biệt ở mức độ vi mô đã dần tích lũy và gây ra tiến hóa ở cấp độ vĩ mô.

Điều này có ý nghĩa gì đối với việc giải thích về loài người? Chúng ta khác biệt. Và những khác biệt giữa ta và các loài khác (cho dù có tổ tiên gần gũi như thế nào) là do phát triển để phục vụ những mục đích khác nhau. Với tác giả, những điều này không loại trừ Chúa mà ở đây cũng như chỉ là cách Chúa vận hành thế giới này. Tôi đồng ý điều thứ nhất, còn điều thứ hai thì…

Phần tiếp theo tác giả đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về sự tồn tại của loài người dựa vào các góc nhìn khác nhau:

  1. Chủ nghĩa vô thần: Có vẻ như tác giả không thích chủ nghĩa vô thần khi họ sử dụng Thuyết tiến hóa để bác bỏ sự tồn tại của Chúa. Viện dẫn McGrath, tác giả đã chỉ ra những bất hợp lí trong ba lập luận sau đây của Dawkins:
  • Thuyết tiến hóa chỉ là giảm tác động của Chúa đối với sự phát triển của các loài.
  • Tôn giáo không phải là tin vào những gì không phải mà đó là những gì có thể.
  • Hậu quả của những việc làm nhân danh tôn giáo là do những kẻ thực hiện.

Bên cạnh đó Gould cũng chỉ trích Dawkins rằng khoa học không thể chứng tỏ sự tồn tại của Chúa vì Chúa đã vượt ngoài thực tế hiểu biết của loài người. Cá nhân tôi thì thấy cả những lập luận và phản lập luận đề cũng không ý nghĩa nhiều lắm!!

  1. Thuyết bất khả tri: Thuật ngữ “bất khả tri” do Huxley đề xướng nhưng bị nhiều người hiểu lầm và sử dụng sai. Nói nôm na thì ta chỉ có thể nói một con dao là vô dụng khi không thể sử dụng nó bằng mọi cách (cho nhiều mục đích khác nhau) nếu ta đã thử hết thảy thay vì là võ đoán dựa vào hình dáng của nó. Vì “không có khả năng thấu hiểu” nên nó dường như cũng khó mà hiểu được Chúa!
  2. Sáng tạo luận: theo tác giả, Sáng tạo luận rõ ràng là đã bị những người sáng tạo và theo nó làm cho tan rã và sụp đổ. Lí do đơn giản là họ đã gán góc nhìn của những người viết về sách Sáng thế (như thánh Augustine) cách nhìn nhận thế giới hiện đại của họ. Càng tìm cách chối bỏ các bằng chứng khoa học (mà ngày càng được tìm thấy nhiều hơn), họ lại càng tạo ra một nền tảng sai lầm hơn, do đó khiến thế hệ trẻ chối bỏ nó. Theo tác giả, họ nên cởi mở trước mọi tia sáng dù đó là xuất phát từ khoa học hay đó là ánh sáng thần thánh. Hay hai nguồn sáng này chiếu song song!?
  3. Thiết kế thông minh: Khi khoa học cần sự trợ giúp của Thần học để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc giải thích sự sống xuất hiện trên Trái đất này, Thiết kế thông minh ra đời. Ba định đề của thuyết này là:
    • Là lí thuyết khoa học nhưng nó không dựa vào khoa học mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ trước những quản điểm thực dụng vô thần như Johnson khao khát.
    • Nó không giải thích được sự phức tạp của tự nhiên một cách hoàn thiện. Thay vào đó, Behe đã lập luận rằng cơ sở chọn lọc tự nhiên không thể tạo ra những cỗ máy sống phức tạp như vậy được.
    • Và do đó, Chúa sẽ là người can thiệp.

Tuy nhiên, Thiết kế thông minh đã kết thúc sứ mạng của mình chỉ sau 15 năm tồn tại và phát triển:

  • Đầu tiên, Thiết kế thông minh chỉ lí giải những gì đã xảy ra mà không dự đoán được những phát hiện khác và gợi ý các cách tiếp cận khác mang tính thực nghiệm nên nó không thể là một thuyết khoa học thực sự.
  • Tiếp theo, sự phức tạp của những cỗ máy sống dần được khoa học nghiên cứu và khám phá ra là “không phải là không thể được”. Behe có nói rằng các sinh viên nguyên thủy đã chứa tất cả những gì cần thiết và cho đến một thời điểm nào đó sẽ được kích hoạt khi cần thiết. Điều này sau đó đã được chứng minh qua 3 ví dụ rõ ràng sau đây: (i) hiện tượng huyết khối – luôn có một hình thái trung gian trong sự phát triển; (ii) cấu tạo con mắt – các “thiết kế của Chúa” có vẻ không thực sự hoàn hảo và (iii) vi trùng roi – các chức năng của sinh vật luôn có một vai trò nào đó chứ không phải không hoàn toàn hữu ích (khi so sánh các loài gần nhau cho thấy giả định rằng không thể có chức năng hữu ích nào trước đó do qui trình chọn lọc tự nhiên chi phối vì những phần phức tạp không thể giản lược được là không đúng).
  • Và cuối cùng, về mặt thần học thì Thiết kế thông minh cho thấy hình ảnh của một đức Chúa vụng về cho nên nó cũng không được những người theo Chúa đón nhận.
  1. Kết hợp giữa khoa học và tôn giáo, tác giả đã đề xuất một giải pháp khác – Biologos – biến thể theo Thuyết tiến hóa hữu thần. Biến thể này gồm 6 định đề và nếu chấp nhận tất cả thì ta sẽ có Chúa. Tác giả đưa ra nhiều giải thích cho việc mọi người không biết đến học thuyết này như không có nhiều người nổi tiếng ủng hộ, không có nhiều người hiểu rõ nội dung của học thuyết, do tên gọi gây nhầm lẫn, vì nó đề nghị sự hòa hợp mà con người lại thích xung đột và nhiều người tin vào Chúa lại thấy thuyết này cho rằng Chúa làm việc một cách ngẫu nhiên.

Tóm lại, ta không nên áp dụng những giới hạn của con người cho Chúa vì Chúa vượt ra ngoài giới hạn những gì con người đã biết và sẽ biết. Ngay cả Kinh Thánh cũng nên được hiểu một cách hình tượng hóa, không nên theo sát nghĩa đen mà suy luận ra. Tác giả cho rằng lựa chọn về bên nào cũng nguy hiểm vì sự sáng tạo của con người là kì diệu và con người không có khả năng nắm bắt được điều đó.

Cá nhân tôi đánh giá không cao nội dung cuốn sách này vì những lập luận thiếu vững chắc và mang nặng tính chủ quan của tác giả. Ngoài việc cung cấp cấp những thông tin bổ ích và kiến thức về những tiến bộ của ngành sinh-hóa hiện đại thì phần còn lại không có gì thú vị.
Điểm đánh giá: 2/5