[Book]Đạo quân Trung Quốc thầm lặng – Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo

Thông tin sách

Tên sách: Đạo quân Trung Quốc thầm lặng

Tác giả: Juan Pablo Cardenal, Heriberto Araújo

Dịch giả: Nguyễn Đình Huỳnh

Số trang: 366

Quyết định xuất bản số 1539/QĐ-NXBHNV cấp ngày 11/10/2016


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Tôi được thầy tôi giới thiệu cuốn sách này (trước đó ông cũng khuyên tôi tìm đọc cuốn Tư bản thân hữu Trung Quốc) và lập tức tìm mua trên mạng vì những đánh giá hấp dẫn của ông.

Ở chương đầu tiên của cuốn sách, tác giả đã cho ta thấy một sự di cư của người dân Trung Quốc sang các quốc gia khác ra trong vài thế kỉ qua và những lợi ích mà “đế chế” này nhận được từ làn sóng di dân này. Người Trung Quốc đã di cư và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh ám muội tại các quốc gia kém và đang phát triển. Lí do họ lựa chọn những nước này là vì pháp luật lỏng lẻo và nhiều cơ hội làm ăn cho họ. Bên cạnh đó, chính quyền Trung Quốc cũng được lợi từ sự di dân này trong việc đối phó với nạn thất nghiệp và giảm căng thẳng xã hội đang tồn tại trong nội bộ quốc gia. Hơn thế nữa, những người dân di cư này thường trở về sau đó với một số vốn đáng kể để đầu tư vào giáo dục con cái hay kinh doanh cho Trung Quốc.

Một điều đáng chú ý khi nói đến cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài chính là mối liên hệ mạnh mẽ giữa họ. Một ví dụ điển hình là nếu có một người Trung Quốc muốn kinh doanh thì những đồng hương của anh ta sẽ sẵn sàng giúp đỡ cho dù họ không có mối quan hệ gia đình hay sắc tộc gì cả. Đối với mỗi người dân Trung Quốc thì Trung Quốc là một nhà nước – nền văn minh (không phải là nhà nước – quốc gia như suy nghĩ của những người dân ở các quốc gia phương Tây), và do đó, ý thức thuộc về nền văn hóa – truyền thống với lịch sử lâu đời của họ sẽ không biến mất dù họ có cư trú trên một lãnh thổ có nền văn hóa – xã hội khác. Ý thức chủ nghĩa dân tộc mà Bắc Kinh thúc đẩy trong nhân dân đã lan ra khỏi biên giới Trung Quốc và xâm nhập vào tất cả cộng đồng của họ ở nước ngoài. Những cộng đồng này đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính cho sự phát triển tại chính quốc, và được biết với tên gọi “Hội Trung Hoa vĩ đại”. Một vấn đề khác, nó như là lo lắng của nước Nga hơn, là nỗi sợ về một cuộc xâm lăng thầm lặng trong tâm trí người Nga đối với anh bạn láng giềng phương Nam này khi chứng kiến một Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Những hoạt động kinh doanh bất chấp của thương nhân Trung Quốc ở nước ngoài được hai giả trình bày thông qua các mẩu chuyện là nội dung chính của chương hai. Quốc gia đầu tiên được đề cập là Kazakhstan, cửa ngỏ vào Trung Á của Trung Quốc. Đất nước này gần như bị phụ thuộc hoàn toàn vào hàng hóa của Trung Quốc (một phần là do hệ thống giao thông kém phát triển, mà nếu có cải thiện thì cũng chỉ mang lại lợi ích cho lái buôn Trung Quốc). Khu vực Tân Cương cũng được Trung Quốc đầu tư đáng kể nhằm hai mục đích chính: i) ổn định tình hình chính trị tại đây và ii) tạo ra thêm các cơ hội giao thương trong và ngoài Trung Á. Sở dĩ Trung Á là mục tiêu của Trung Quốc trong những năm gần đây được các tác giả phân tích là do nhu cầu nguyên liệu cũng như lợi ích thương mại cho sự phát triển thần kì của Trung Quốc sau khi nước Nga để lại khoảng trống quyền lực ở những nơi này. Đối với Iran, Trung Quốc đang chơi một nước cờ đôi, một mặt vẫn tiếp tục lợi dụng các cơ hội kinh doanh với nước này, mặt khác lại phải thể hiện trách nhiệm của một “nước lớn” trên các diễn đàn quốc tế. Rõ ràng là Iran cũng biết những rủi ro từ Trung Quốc, và rằng mối quan hệ này là bất ổn nhưng họ không có nhiều lựa chọn. Hồng Kông là một đáp án tạm thời cho cả hai khi mà phần lãnh thổ này giờ đây đã “thuộc” về Trung Quốc (Một quốc gia, hai chế độ) nhưng vẫn duy trì được các quyền lợi từ các kí kết có từ thời bị Anh đô hộ. Tình hình với Dubai thì khá hơn một chút, khi mà Dubai vẫn nắm trong tay quyền lực tương đối để kiểm soát và đảm bảo cân bằng hơn khi làm ăn với những thương nhân người Trung Quốc. Ở Châu Phi, Trung Quốc đang cố gắng tái tạo lại mô hình kinh tế Châu Âu thuộc địa mà Đế quốc Anh đã thực hiện vào thế kỉ 19 thông qua việc tận dụng những mối quan hệ để kinh doanh (một cách không hợp pháp) tại những quốc gia kém phát triển. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, người dân ở các nước Châu Phi có cơ hội tiếp cận hàng hóa từ Trung Quốc và Trung Quốc ngay lập tức tận dụng các bảo hộ luật pháp từ WTO để phổ biến hàng hóa của mình ở những nước này. Nhưng, phân tích sâu hơn thì ta thấy đây là một trò chơi một chiều mà lợi ích luôn thuộc về Trung Quốc: họ nhập tài nguyên thiên nhiên từ các quốc gia Châu Phi sau đó xuất khẩu thành phẩm trở lại các quốc gia này với số lượng lớn hơn nhiều (nôm na là nhập khẩu nguyên liệu để làm 1 cái áo nhưng lại xuất khẩu 10 cái áo). Hậu quả là nhiều ngành công nghiệp ở các quốc gia này bị sụp đổ khiến cho việc phụ thuộc vào hàng hóa của Trung Quốc càng ngày càng trầm trọng. Còn ở Argentina, những người nhập cư Trung Quốc thâm nhập vào lĩnh vực siêu thị đầy hấp dẫn và kiểm soát gần như toàn bộ tại đây. Cùng một cách thức như những nơi khác, sử dụng những qui ước xã hội lâu đời, cộng đồng người Trung Quốc đã dựng lên các cửa hàng nhờ sự giúp đỡ từ các đồng hương và phát triển mạng lưới này (một cách không chính thức) thành công. Tóm lại, cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài đã tận dụng mọi cơ hội kinh doanh tại các quốc gia phát triển kém hơn, những quốc gia không được phương Tây và Nga chú trọng, để tạo ra ảnh hưởng của mình từ mọi phương diện, từ người sản xuất cho đến khách hàng. Và những người Trung Quốc này cũng không ngại (hay có thể nói khác đi là họ thích) sử dụng các phương thức kinh doanh không chính thống, các mối quan hệ không minh bạch cũng như lờ đi các qui định pháp luật của nước sở tại để làm giàu.

Vậy, Trung Quốc đã và đang làm gì tại các quốc gia kém và đang phát triển? Câu trả lời có ở chương ba và chương bốn: khai thác tài nguyên và mang về Trung Quốc. Chỉ vậy thôi. Hãy điểm qua một vài quốc gia được đề cập trong hai chương này:

  • Myanmar: ở Myanmar có hai thứ mà lái buôn Trung Quốc rất thích, đó là gỗ rừng và đá quí. Nói về gỗ thì người dân ở Kachin (1 bang của Myanmar) có lẽ là những người thấu hiểu hơn hết khi họ đã chứng kiến những gì mà các doanh nghiệp Trung Quốc đã làm với những cánh rừng ở nơi đây. Còn đối với đá quí, đặc biệt là đá ngọc bích hoàng đế, lái buôn Trung Quốc cũng tiếp cận với một cách khá tồi tệ không kém: tiếp cận nguồn hàng và sau đó loại bỏ dần các trung gian để hưởng lợi “dày”. Bên cạnh đó, việc khai thác khoáng sản thiếu trách nhiệm của các công ti Trung Quốc ở Myanmar đã gây ra nhiều hệ lụy về xã hội như ma túy, mại dâm, sức khỏe người dân và môi trường tự nhiên. Song, đây không phải là sự đánh đổi cho tương lai nào hết. Vì các quá trình sản xuất và chế biến đề ở Trung Quốc nên Myanmar chỉ giống như là sân bãi khai thác mà thôi. Trung Quốc thực sự đã lợi dụng rất tốt những khó khăn của Myanmar do các biện pháp trừng phạt quốc tế gây ra cho quốc gia này cũng như củng cố lợi ích địa chính trị để củng cố quyền lợi của họ ở nơi đây.
  • Peru: Trung Quốc đã sử dụng các công ti nhà nước như là một con bài chiến lược trong việc tiếp cận các mỏ khoáng sản tại quốc gia này. Một mặt, các công ti này thể hiện vai trò là những nhà đầu tư vô trách nhiệm với môi trường. Mặt khác, chúng lại được miễn trừ trách nhiệm vì lí do chính trị và đặc quyền ngoại giao có được từ vị thế của Trung Quốc.
  • Congo: tại quốc gia cực kì bất ổn về chính trị và kinh tế này, Trung Quốc cũng chơi chiêu bài “đầu tư vốn lớn trong dài hạn” như nhiều quốc gia khác. Lí do khá đơn giản: thứ nhất, về dài hạn thì lợi ích của các tài nguyên này cho Trung Quốc sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra ban đầu; thứ hai, các khoản thuế ưu đãi được ghi trong các hợp đồng với Congo sẽ khiến các khoản thuế ưu đãi chảy vào túi của các doanh nghiệp liên doanh (mà Trung Quốc nắm phần lớn vốn); và cuối cùng, Trung Quốc đóng vai trò ở tất cả các khâu, từ người cho vay, người bán cho đến khách hàng, và do đó họ sẽ khống chế được phần định giá để có thể mua những tài nguyên này với giá rẻ mạt. Điều đáng buồn là những công trình cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc hứa hẹn như là một phần trong các “thỏa thuận hợp tác” lại không hề phát huy tác dụng như kì vọng. Đầu tư cơ sở hạ tầng làm gì nếu như không đào tạo những người có đủ năng lực tiếp quản và sử dụng chúng cơ chứ?
  • Turmenistan, Kazakhstan, Sudan, Iran, Angola Venezuela có gì mà Trung Quốc thèm muốn? Đó là “vàng đen” – dầu mỏ. Các quốc gia này đều mang những đặc điểm chung: dự trữ dầu mỏ lớn, bị cấm vận bởi Mĩ và phương Tây và mức độ tham nhũng cao. Đặc điểm thứ nhất là lí do chính mà các công ti Trung Quốc tìm đến những quốc gia này: nguồn cung cấp dầu mỏ dài hạn cho sự phát triển của Trung Quốc. Đặc điểm thứ hai tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc tiếp cận và lấp đầy những khoảng trống mà các công ti phương Tây để lại và nó cũng mang lại lợi thế trở thành “lựa chọn duy nhất” cho Trung Quốc. Đặc điểm thứ ba được Trung Quốc sử dụng như là cách thức vận hành và được thừa nhận ngay trong các bảng cân đối kế toán của các công ti Trung Quốc. Việc mua bán dầu mỏ với Trung Quốc không chỉ mang lại nguồn lợi tài chính mà cả về quân sự cho Sudan. Còn đối với Iran thì lợi thế về quan hệ chính trị cũng như sức mạnh tài chính đã bù đắp những thiếu sót, yếu kém trong công nghệ khai thác và chế biến dầu mỏ của Trung Quốc. Tại Angola, Trung Quốc đã phá hỏng những kế hoạch và nỗ lực của các tổ chức tín dụng quốc tế nhằm gây ra áp lực buộc quốc gia này phải cải tổ để có thể tiếp cận các khoản vốn vay bằng những “tờ séc quyền lực” của mình. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Trung Quốc đang tạo thêm nợ chứ không hề có ý cải thiện bất cứ điều gì cho quốc gia này. Các cơ sở hạ tầng được xây dựng một cách chậm chạp và không có chút tiến triển gì nhiều năm liền trong khi dầu mỏ vẫn được xuất khẩu đều đặn sang Trung Quốc để trả nợ (mà nợ cái gì ấy nhỉ?). Venezuela lại là một ví dụ cực đoạn khác do những lệnh trừng phạt của Mĩ và phương Tây, những chính sách này khiến cho Trung Quốc trở thành “hàng xóm tốt bụng” của đất nước được mô tả là “lắm tiền, nhiều tài nguyên nhưng dễ dụ” này.
Advertisements

[Book]Ngôn ngữ của Chúa – Francis S.Collins

Thông tin sách

Tên sách: Ngôn ngữ của Chúa

Tác giả: Francis S.Collins

Dịch giả: Lê Thị Thanh Thủy

Hiệu đính: Nguyễn Cảnh Bình

Số trang: 350

Quyết định xuất bản số 501/QĐ-ThG cấp ngày 07/05/2018


Tóm tắt và cảm nhận của bản thân

Mở đầu sách bằng câu chuyện chuyển từ một người tôn sùng chủ nghĩa vô thần sang một người có đức tin của chính tác giả. Và một trong những nhà tư tưởng đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của Collins trong quá trình này là C. S. Lewis (mà ta sẽ thấy rằng trong những phần sau của tác phẩm, Collins thường trích dẫn Lewis cho nhiều vấn đề nan giải).

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại của Chúa, và Collin đã giải thích cho người đọc rằng Người là có thực bởi 4 lí do sau đây:

  • Chúa không phải là ảo tưởng vì có một nơi trong tâm trí của chúng ta bị “thiếu”, như sự khao khát mãnh liệt về một điều gì đó mới mẻ, và nó sẽ (cà cần) được lấp đầy bởi hình tượng Chúa.
  • Bản thân tôn giáo là tốt nhưng những người thực hiện là chưa tốt, do đó ta không nên phê phán tôn giáo. Về vấn đề này, tôi có một thắc mắc: ví dụ về CNXH ở Nga và Trung Quốc thì có khác gì đâu, tại sao tác giả lại chú ý về tính vôn thần của nó và qui kết thất bại của CNXH ở hai quốc gia này cho nó?
  • Không phải Chúa không yêu thương con người mà là do con người tự gây ra cho nhau những đau khổ và việc can thiệt tự do ý chí của con người sẽ dẫn đến hỗn loạn trật tự vũ trụ (giống việc Flash cứu mẹ nhỉ 🙂 ). Và những trải nghiệm đau  khổ sẽ giúp con người tìm ra và cảm nhận những điều đối lập tích cực hơn.
  • Điều kì diệu (điều kì diệu thực sự, không phải những thứ tầm thường được phóng đại lên) là một trong các biểu hiện cho sự tồn tại của Chúa.

Phần tiếp theo tác giả đã đi ngược tiến trình tiến hóa để lí giải sự hình thành sự sống và sự tồn tại của loài người. Bắt đầu bằng việc vũ trụ được hình thành có vẻ không chỉ đơn giản là do ngẫu nhiên. Có nhiều bằng chứng củng cố cho Thuyết Big Bang cũng như những lập luận chỉ ra những điều không thể lí giải được bởi Thuyết này. Tác giả đã chỉ ra ba kịch bản có thể cho các trường hợp này.

Trước hết, yếu tố “tình cờ” đã hình thành sự sống trong một vũ trụ độc nhất, là vũ trụ mà chúng ta đang sống. Tác giả cho rằng điều này là khó có thể xảy ra nhất và do đó, loại bỏ nó. Một lập luận khác về “đa vũ trụ” có thể gia tăng khả năng xảy ra điều này thì vẫn khiến tác giả khó tin vào sự may mắn của nhân loại khi được xuất hiện và tồn tại trong vũ trụ này (ông vẫn để ngỏ khả năng này). Cuối cùng, sự xuất hiện của Chúa có vẻ sẽ giải quyết những câu hỏi về sự khởi nguyên của vũ trụ tốt hơn cả. Mặc dù những kiến thức khoa học gần đây đã bác bỏ Thuyết quyết định khoa học (việc này thường xảy ra trong lịch sử phát triển của khoa học), giả định rằng Chúa đã thực sự hiện diện trong lịch sử hình thành và phát triển vốn cũng mong manh không kém, theo ý kiến của tôi. Nếu một người nào đó, bằng một cách ngẫu nhiên nào đó, nó rằng giá xăng sẽ tăng và quả thực giá xăng ngày mai tăng thì điều đó có chứng minh rằng người đó có khả năng tiên tri hay không? Tôi nghi ngờ điều này!

Đi sâu hơn vào nguồn gốc của sự sống trên Trái Đất tác giả chỉ cho ta thấy rằng sự vận hành của tự nhiên quá tức tạp đến mức đáng ngờ (rằng chọn lọc tự nhiên khó mà có thể tạo ra những gì phức tạp và tinh tế đến vậy!?). Những phát kiến của sinh học sau này đã giải quyết vấn đề trên: ADN, ARN và protein. Quá trình ARN thông tin được sao chép từ một ADN (nếu ví ADN là một cái thang được dựng lên từ các tổ hợp của hai cặp bazo A-T và G-C thì ARN chỉ là một nửa bên của cái thang này) chuyển những thông tin này sang một protein nhất định đã góp phần lí giải cho những lí luận trước đó về nguồn gốc các loài của Darwin và Wallace hay những thí nghiệm về di truyền của Mendel và Garold. Như vậy, tiến hóa là một cơ chế. Và vậy thì, vai trò của Chúa ở đây là gì?

Lần ngược tiến trình giải mã gen người của nhân loại ta thấy sự khó khăn của hơn 2000 nhà khoa học hàng đầu làm việc tại 6 trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới ròng rã hơn 10 năm. Thật may mắn khi họ quyết định công bố những thông tin này cho mọi người miễn phí (mặc dù vậy, tôi vẫn nghĩ việc Celera của Venter tham gia vào quá trình giải mã gen với tuyên bố sẽ đăng kí sở hữu tư nhân những thông tin sau khi giải mã đã thúc đẩy tiến trình này). Sau khi giải mã thành công bộ gen người, nhiều phát hiện mới khi những nhà nghiên cứu cố gắng đọc bản “hướng dẫn cho loài người” này:

  • Ở cấp độ ADN, ta thấy có những tương đồng đáng kể giữa những cá thể người cũng như giữa con người với các loài khác. Điều này đã ủng hộ Thuyết tiến hóa trên cơ sở chọn lọc tự nhiên của Darwin.
  • Khi so sánh trình tự ADN của con người với các sinh vật khác, ta cũng thấy có sự tương đồng rất cao. Những khác biệt ở mức độ vi mô đã dần tích lũy và gây ra tiến hóa ở cấp độ vĩ mô.

Điều này có ý nghĩa gì đối với việc giải thích về loài người? Chúng ta khác biệt. Và những khác biệt giữa ta và các loài khác (cho dù có tổ tiên gần gũi như thế nào) là do phát triển để phục vụ những mục đích khác nhau. Với tác giả, những điều này không loại trừ Chúa mà ở đây cũng như chỉ là cách Chúa vận hành thế giới này. Tôi đồng ý điều thứ nhất, còn điều thứ hai thì…

Phần tiếp theo tác giả đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về sự tồn tại của loài người dựa vào các góc nhìn khác nhau:

  1. Chủ nghĩa vô thần: Có vẻ như tác giả không thích chủ nghĩa vô thần khi họ sử dụng Thuyết tiến hóa để bác bỏ sự tồn tại của Chúa. Viện dẫn McGrath, tác giả đã chỉ ra những bất hợp lí trong ba lập luận sau đây của Dawkins:
  • Thuyết tiến hóa chỉ là giảm tác động của Chúa đối với sự phát triển của các loài.
  • Tôn giáo không phải là tin vào những gì không phải mà đó là những gì có thể.
  • Hậu quả của những việc làm nhân danh tôn giáo là do những kẻ thực hiện.

Bên cạnh đó Gould cũng chỉ trích Dawkins rằng khoa học không thể chứng tỏ sự tồn tại của Chúa vì Chúa đã vượt ngoài thực tế hiểu biết của loài người. Cá nhân tôi thì thấy cả những lập luận và phản lập luận đề cũng không ý nghĩa nhiều lắm!!

  1. Thuyết bất khả tri: Thuật ngữ “bất khả tri” do Huxley đề xướng nhưng bị nhiều người hiểu lầm và sử dụng sai. Nói nôm na thì ta chỉ có thể nói một con dao là vô dụng khi không thể sử dụng nó bằng mọi cách (cho nhiều mục đích khác nhau) nếu ta đã thử hết thảy thay vì là võ đoán dựa vào hình dáng của nó. Vì “không có khả năng thấu hiểu” nên nó dường như cũng khó mà hiểu được Chúa!
  2. Sáng tạo luận: theo tác giả, Sáng tạo luận rõ ràng là đã bị những người sáng tạo và theo nó làm cho tan rã và sụp đổ. Lí do đơn giản là họ đã gán góc nhìn của những người viết về sách Sáng thế (như thánh Augustine) cách nhìn nhận thế giới hiện đại của họ. Càng tìm cách chối bỏ các bằng chứng khoa học (mà ngày càng được tìm thấy nhiều hơn), họ lại càng tạo ra một nền tảng sai lầm hơn, do đó khiến thế hệ trẻ chối bỏ nó. Theo tác giả, họ nên cởi mở trước mọi tia sáng dù đó là xuất phát từ khoa học hay đó là ánh sáng thần thánh. Hay hai nguồn sáng này chiếu song song!?
  3. Thiết kế thông minh: Khi khoa học cần sự trợ giúp của Thần học để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc giải thích sự sống xuất hiện trên Trái đất này, Thiết kế thông minh ra đời. Ba định đề của thuyết này là:
    • Là lí thuyết khoa học nhưng nó không dựa vào khoa học mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ trước những quản điểm thực dụng vô thần như Johnson khao khát.
    • Nó không giải thích được sự phức tạp của tự nhiên một cách hoàn thiện. Thay vào đó, Behe đã lập luận rằng cơ sở chọn lọc tự nhiên không thể tạo ra những cỗ máy sống phức tạp như vậy được.
    • Và do đó, Chúa sẽ là người can thiệp.

Tuy nhiên, Thiết kế thông minh đã kết thúc sứ mạng của mình chỉ sau 15 năm tồn tại và phát triển:

  • Đầu tiên, Thiết kế thông minh chỉ lí giải những gì đã xảy ra mà không dự đoán được những phát hiện khác và gợi ý các cách tiếp cận khác mang tính thực nghiệm nên nó không thể là một thuyết khoa học thực sự.
  • Tiếp theo, sự phức tạp của những cỗ máy sống dần được khoa học nghiên cứu và khám phá ra là “không phải là không thể được”. Behe có nói rằng các sinh viên nguyên thủy đã chứa tất cả những gì cần thiết và cho đến một thời điểm nào đó sẽ được kích hoạt khi cần thiết. Điều này sau đó đã được chứng minh qua 3 ví dụ rõ ràng sau đây: (i) hiện tượng huyết khối – luôn có một hình thái trung gian trong sự phát triển; (ii) cấu tạo con mắt – các “thiết kế của Chúa” có vẻ không thực sự hoàn hảo và (iii) vi trùng roi – các chức năng của sinh vật luôn có một vai trò nào đó chứ không phải không hoàn toàn hữu ích (khi so sánh các loài gần nhau cho thấy giả định rằng không thể có chức năng hữu ích nào trước đó do qui trình chọn lọc tự nhiên chi phối vì những phần phức tạp không thể giản lược được là không đúng).
  • Và cuối cùng, về mặt thần học thì Thiết kế thông minh cho thấy hình ảnh của một đức Chúa vụng về cho nên nó cũng không được những người theo Chúa đón nhận.
  1. Kết hợp giữa khoa học và tôn giáo, tác giả đã đề xuất một giải pháp khác – Biologos – biến thể theo Thuyết tiến hóa hữu thần. Biến thể này gồm 6 định đề và nếu chấp nhận tất cả thì ta sẽ có Chúa. Tác giả đưa ra nhiều giải thích cho việc mọi người không biết đến học thuyết này như không có nhiều người nổi tiếng ủng hộ, không có nhiều người hiểu rõ nội dung của học thuyết, do tên gọi gây nhầm lẫn, vì nó đề nghị sự hòa hợp mà con người lại thích xung đột và nhiều người tin vào Chúa lại thấy thuyết này cho rằng Chúa làm việc một cách ngẫu nhiên.

Tóm lại, ta không nên áp dụng những giới hạn của con người cho Chúa vì Chúa vượt ra ngoài giới hạn những gì con người đã biết và sẽ biết. Ngay cả Kinh Thánh cũng nên được hiểu một cách hình tượng hóa, không nên theo sát nghĩa đen mà suy luận ra. Tác giả cho rằng lựa chọn về bên nào cũng nguy hiểm vì sự sáng tạo của con người là kì diệu và con người không có khả năng nắm bắt được điều đó.

Cá nhân tôi đánh giá không cao nội dung cuốn sách này vì những lập luận thiếu vững chắc và mang nặng tính chủ quan của tác giả. Ngoài việc cung cấp cấp những thông tin bổ ích và kiến thức về những tiến bộ của ngành sinh-hóa hiện đại thì phần còn lại không có gì thú vị.
Điểm đánh giá: 2/5

[Book]Miền đất hứa của tôi – Ari Shavit

Thông tin sách

Tên sách: Miền đất hứa của tôi

Tác giả: Ari Shavit

Dịch giả: Kiều Thị Thu Hương

Hiệu đính: Võ Minh Tuấn

Số trang: 553

Quyết định xuất bản số 1327/QĐ-ThG cấp ngày 26/12/2017


Tóm tắt và cảm nhận cá nhân

Là câu chuyện về đất nước của chính tác giả, Israel, theo tiến trình thời gian – bắt đầu từ năm 1897 cho đến năm 2013. Miền đất hứa của tôi của Ari Shavit đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quan, sơ lược về sự hình thành của nhà nước Do Thái Israel, những khó khăn và thách thức tồn tại của nó trong thế kỉ này.

Bắt đầu bằng việc tác giả “theo chân” của người cụ Herbert Bentwich từ Anh trở về Đất Israel. Quá khứ và hiện tại xen kẽ lẫn nhau qua lời kể của Ari Shavit khi đi lại con đường mà cụ Herbert Bentwich đã đi, những điều trông thấy, những cảm xúc dâng trào như thể chính tác giả đã ở đó, đã cùng với cụ của mình chứng kiến mảnh đất mà sau này sẽ trở thành nhà nước Do Thái Israel. Những cảm nhận chủ quan của tác giả và những cảm xúc của người đi trước (cũng do tác giả tưởng tượng) không hẳn là giống nhau, nhưng họ có chung một cảm giác về một kỉ nguyên mới cho những người Do Thái ở vùng đất này.

Chuyến đi tiếp theo của tác giả đưa ta quay trở lại thung lũng Harod vào tháng 09/1921, chứng kiến những thanh niên Do Thái tiên phong xây dựng công xã Ein Harod. Mặc dù chủ nghĩa Zion phi xã hội chủ nghĩa đã thất bại trong công cuộc thuộc địa hóa Palestine nhưng chủ nghĩa xã hội kiểu công xã vẫn cần thiết cho người Do Thái để thiết lập cộng đồng Do Thái. Thời gian ban đầu hoạt động của công xã gặp rất nhiều khó khăn, đôi lúc họ cảm thấy như bế tắc. Song, khi Yitzhak Tabenkin tham gia Ein Harod vào 12/1921, đường hướng của công xã đã những bước chuyển biến đáng kể. Đường lối lãnh đạo của ông được mô tả là Bolshevik về phong cách và quan điểm chính trị là chiến đấu. Là một người theo chủ nghĩa tích cực, ông đòi hỏi rất cao trong việc sớm biến thung lũng Harod trở thành của người Do Thái. Dưới sự lãnh đạo của ông, công xã đã đón nhận những trái ngọt đầu tiên vào mùa hè 1922.

Những năm 1935 – 1936 là giai đoạn tồi tệ đối với những người Do Thái ở Châu Âu. Họ bị đàn áp, bị đánh đuổi và bị tàn sát trên qui mô lớn. Tuy vậy, cuộc sống ở thuộc địa Rehovot dường như không có chút liên quan gì đối với những biến động ở Châu Âu. Sự phát triển của những vườn cam Jaffa mang lại hi vọng cho những người Do Thái trồng cam nơi đây về một tương lai sung túc và yên bình. Bức tranh nửa sáng nửa tối này được khắc họa bằng việc khi thì đưa người đọc trở về vườn cam đặc biệt của một người Do Thái, lúc thì lại trình bày những diễn biến của phong trào phục quốc Zion của những người Do Thái khác mà tiêu biểu là Al-Kassam. Cuộc nổi dậy của Al-Kassam nhanh chóng bị dập tắt nhưng đó chỉ là khởi đầu cho những cuộc kháng chiến tiếp theo sau này. Trong khi đó, có vẻ mọi thứ vẫn đang cân bằng và đi đúng hướng tại Rehovot.

Quãng thời gian tiếp theo chứng kiến những xung đột đẫm máu của người Do Thái với người Ả Rập, từ những cuộc tấn công nhỏ lẻ đã bùng phát thành những cuộc tấn công vũ trang có qui mô lớn hơn, và nó được đưa lên đỉnh điểm bởi hành động diệt chủng Do Thái của Đức Quốc Xã. Thực tế tàn khốc này đã thay đổi chủ nghĩa Zion đến tận gốc rễ, từ việc muốn tăng trưởng hữu cơ lâu dài thành việc đấu tranh và chấp nhận mất mát. Trong quãng thời gian này, pháo đài Masada đã dần trở thành biểu tượng mới cho dân tộc Do Thái thông qua những nỗ lực bền bỉ của Gutman, người truyền lửa cho thế hệ trẻ Do Thái thời kì này. Masada, từ chỗ là một huyền thoại bi kịch, đã trở thành đặc tính cho chủ nghĩa Zion và nó góp phần định hình cho tính cách của nhà nước Israel được thành lập sau này. Tuy nhiên, cuộc thảm sát 3 ngày ở Lydda vào tháng 07/1948 có lẽ là sự kiện đáng quên nhất của Gutman cũng như những người tham gia khác. Nó là bằng chứng trực quan đầy khốc liệt cho cái được gọi là “sự đánh đổi” đầy tính cực đoan. Mâu thuẫn sâu sắc giữa người Ả Rập và người Do Thái khiến cho họ không thể cùng chung sống với nhau, điều này bắt buộc chủ nghĩa Zion phải đưa ra lựa chọn: hoặc là một nhà nước Do Thái, hoặc là không gì cả. Và cuối cùng, như chúng ta đã biết, Israel ra đời.

Những năm tiếp theo là thời gian những lãnh đạo của Israel định hình và củng cố lại nhà nước non trẻ mới thành lập này. Đầu tiên và việc những người Israel tị nạn từ nhiều nơi trên thế giới trở về “miền đất hứa” của họ. Những người này, dù đã trải qua những tháng ngày bị săn lùng, sống chui lủi, bị sỉ nhục, bị mất phẩm giá tương tự nhau nhưng lại không có chung cảm nhận với cuộc sống  ở Israel. Có người thì quá lạc quan, có người thì vẫn còn những hoài nghi, trong khi những người khác thì vẫn còn mải lo toan với cuộc sống mới. Dẫu vậy, theo tác giả, họ vẫn nên hướng tới những điều tốt đẹp hơn bằng cách rũ bỏ quá khứ lại ở phía sau.

Bên cạnh vấn đề nhập cư thì đảm bảo an ninh quốc gia cũng là một vấn đề bức thiết của Israel. Và đó là lí do chính phủ Israel lựa chọn việc xây dựng lò phản ứng hạt nhân Dimona như là một tấm khiên vô hình che chở cho cộng đồng Do Thái xung quanh các quốc gia Ả Rập ở Trung Đông. Quá trình xây dựng được tác giả ghi lại qua lời kể của một kĩ sư – người nắm giữ một vai trò khá quan trọng trong công việc này. Họ, những người tham gia xây dựng Dimona, đã làm việc với một nhận thức mơ hồ nhưng đầy nhiệt huyết và hi vọng đây sẽ là thứ đảm bảo cho tương lai của Israel.

Không chỉ được đảm bảo, với sức mạnh quân sự vượt trội của mình, Israel còn có thể dễ dàng giành chiến thắng trước trước những cuộc tấn công của liên quân Ả Rập nhắm vào mình. Họ không chỉ bảo vệ được đường biên giới quốc gia của mình mà còn mở rộng ra bằng những khu định cư bất hợp pháp và Ofra là một nơi như thế. Sau hai cuộc chiến tranh liên tiếp, vào năm 1967 và 1973, Israel đã rơi vào khủng hoảng nội bộ, người dân mất niềm tin vào chính quyền hiện tại. Vào lúc này, một nhóm các nhà lãnh đạo trẻ của phong trào Gush Emunim, tự phát và hoạt động độc lập với nhau, đã cùng nhìn thấy giải pháp ở Ofra. Bằng nhiều thủ đoạn, cuối cùng khu định cư Ofra được thành lập và kéo theo đó là tham vọng về một vương quốc Israel. Song, những tư tưởng cực đoan này đã (may mắn) được ngăn chặn kịp thời. Vai trò lịch sử của Ofra chấm dứt, giờ đây nó chỉ là một biểu tượng của một niềm tin mong manh.

Sự chiếm đóng có lẽ là một trong những quyết định tồi tệ nhất của Israel. Niềm tin và chế độ không phải lúc nào cũng đều nhìn về cùng một hướng, và tại Gaza tác giả đã được trải nghiệm điều đó trong thời gian nhập ngũ ở nơi đây. Dù cho đã có những nỗ lực để biện minh cho hành động của Israel tại dải  Gaza, nhưng điều đó vẫn không đủ. Đơn giản là vì “cái ác” tự vận hành ở nơi đây vốn dĩ không được chấp nhận. Những day dứt vẫn còn đó,  dù Israel đã trao trả dải Gaza lại cho Palestine, nó vẫn ở trong tâm trí của  người dân ở cả hai quốc gia. Nó không biến mất, nó chỉ  chuyển thành dạng khác mà thôi. Và những người Israel yêu hòa bình đã cố gắng đi tìm lời giải đáp bằng những phong trào hòa bình năm 1993. Họ đã nhìn thấy sự sai trái của việc chiếm đóng cũng như định cư bất hợp pháp, họ mong muốn có được hòa bình với Palestine và các nước Ả Rập. Những cố gắng của họ đã hé mở những hi vọng nhỏ (Hiệp định Oslo), nhưng thực tế là hòa bình không phải là kết quả của những thỏa thuận khi mà sự chiếm đóng vẫn còn đó.

Không chỉ có mối nguy từ bên ngoài, Israel còn phải đối diện với những hiểm họa từ chính bên trong nó. Xung đột sắc tộc giữa người Do Thái Phương Đông và người Israel Zion là một hiểm họa như thế. Có một luận điểm quan trọng, nhà nước Israel được thành lập vốn là dành cho người Do Thái ở Đông Âu (và đáng buồn là họ đã bị thảm sát trong chiến tranh Thế giới lần II đến mức không còn lại bao nhiêu) không phải dành cho những cư dân phương Đông này. Sự phân biệt này sẽ còn kéo dài vì căn cơ của vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Ari Shavit cũng nhận ra điều này, và ông chỉ đơn giản là ghi nhận lại sự xấu xí này của Israel. Ảnh hưởng của ma túy đối với thế hệ trẻ Do Thái cũng là một vấn đề đáng lưu tâm. Đối với những người trẻ này, họ không  quan tâm gì nhiều đến vận mệnh của đất nước. Thứ mà họ quan tâm là sự giải thoát, là tự do, là phá bỏ mọi sự cấm kị mà những người đi trước đặt ra và ma túy sẽ giúp họ cảm nhận được tất cả. Tâng lớp trí thức phi Do Thái ở Israel cũng đặt ra cho nhà nước này một thách thức khác. Kết thúc chuyến đi đến Galilee của tác giả với người bạn thân Dahla là một loạt các câu hỏi tự vấn. Bản thân Ari Shavit cũng cảm thấy bối rối trước những quan điểm của Dahla về giải pháp hai nhà nước độc lập, Palestine và Israel, là không phù hợp vì sự phức tạp trong cộng đồng dân cư hiện tại. Thay vào đó, Dahla hướng tới phong trào một nhà nước hai dân tộc với các quyền được đảm bảo cho người Palestine.

Trong khi những mối nguy ở trên vẫn âm ỉ thì chiến tranh Labanon năm 2006 đã giáng xuống Israel một đòn chí mạng khác. Israel đã chống trả thành công trước quân Hezbollah nhưng nó lại phát hiện ra một thực tại đáng buồn ở Israel: chia rẽ và ích kỉ. Tầng lớp chính trị thì ảo tưởng về tính đúng đắn của thể chế và coi thường thực tại. Giới thượng lưu lại chìm đắm trong những cuộc vui bất tận. Trong khi đó, tầng lớp trung lưu và bình dân là rõ hơn hết nhưng lại bất lực. Sự chia rẽ được khắc họa rõ hơn với một bên là hình ảnh những binh sĩ trẻ đang phải chiến đấu để bảo vệ sự sống còn cho quốc gia còn bên kia là những người trẻ khác đang tụ tập tiệc tùng. Nhưng không như những qui ước bất thành văn của thời đại trước, những người thích dự tiệc này không hề quan tâm những gì đang xảy ra trên chiến trường.

Bên cạnh đó, quốc gia khởi nghiệp Israel có lẽ đã thành công trong việc phát triển kinh tế nhưng ở một góc nhìn khác, Israel đang mất dần đi bản sắc, thiếu sức sống dân tộc và tinh thần đã làm nên quốc gia diệu kì của những năm 50, 60 của thế kỉ 20. Cuộc biểu tình ở Rothschild năm 2011 lại mang đến cho tác giả một hi vọng về một cuộc tái thiết dân chủ mới. Theo tác giả, sau một thời gian dài rệu rạo và thụ động, Israel cần tự làm mới mình. Hơn thế nữa, Israel vẫn chưa thực sự được bình yên. Những ngày tháng an vui của người dân Israel luôn có bóng dáng của những người chiến binh thầm lặng như Amos Yadlin. Những lo lắng của Yadlin cũng như của tác giả có thể chỉ là sự thái quá, nhưng sự thực là những quốc gia Ả Rập chưa bao giờ thoải mái với quốc gia láng giềng của họ từ những ngày đầu lập quốc cho đến bây giờ. Mối đe dọa từ Iran, theo tác giả và Yadlin, là có thực và cũng là nguy hiểm nhất đối với tồn vong của Israel. Yadlin là một người thoe học thuyết Begin tích cực, và ông cho rằng cần phải chặn đứng mối nguy đối với Israel trước khi  nó trở thành sự thực (ông đã 2 lần thành công trước Iraq vào năm 1981 và trước Syria vào năm 2007). Nhưng Iran lại khôn ngoan hơn rất nhiều, và liệu uy quyền của Israel tại khu vực này kéo dài được bao lâu nữa?

Kết thúc Miền đất hứa của tôi, Ari Shavit đã tổng hợp lại bảy thách thức tồn tại cho Israel trong thời đại mới, đó là Hồi giáo, Ả Rập, Palestine, nội bộ, tinh thần, đạo đức và bản sắc của Israel. Trong khi các yếu tố bên ngoài ngày càng mạnh lên thì các yếu tố bên trong ngày càng kém đi – những vòng kim cô này đang siết chặt Israel từng ngày. Những thực tại mới xuất hiện, Trung Đông Mới và Chính Trị Mới, mang đến cho Israel những thách thức và cơ hội mới. Trung Đông Mới tiềm ẩn rủi ro từ những nhà lãnh đạo Ả Rập cực đoan khiến cho Israel có thể rơi vào hỗn loạn một khi những lợi thế về sức mạnh quân sự và công nghệ của Israel  không còn. Trong khi đó, Chính Trị Mới lại mang màu sắc tích cực hơn về một Israel quyết tâm tự cải tổ bằng những cải cách chính phủ và thúc đẩy kinh tế thị trường công bằng hơn. Tóm lại, Israel vẫn sẽ ở vùng đất kinh thánh này và tiếp tục sống bất chấp tất cả.

Điểm đánh giá: 3,5/5

[Book]Sự im lặng của bầy cừu – Thomas Harris

Thông tin sách

Tên sách: Sự im lặng của bầy cừu

Tác giả: Thomas Harris

Dịch giả: Phạm Hùng Anh

Số trang: 347

Quyết định xuất bản số 574/QĐ-NXB HNV, cấp ngày 25/06/2014


Cảm nhận và đánh giá cá nhân

Có lẽ tôi không có khả năng tưởng tượng tốt hoặc là bản dịch của tác giả chưa gợi lên cho tôi những hình ảnh đủ rùng rợn để gọi Sự im lặng của bầy cừu là một tác phẩm trinh thám – kinh dị.

Câu chuyện được mở đầu khá nhẹ nhàng và chậm rãi với việc Jack Crawford, trưởng ban Khoa học hành vi của FBI, yêu cầu Clarice Starling, một sĩ quan trẻ đang học tập tại học viện FBI đi phỏng vấn bác sĩ-tội phạm tâm thần Hannibal Lecter. Hannibal Lecter là một tên điên giết người với cách thức thủ ác vô cùng tàn nhẫn, nhưng lại có một bộ óc thiên tài và sở thích đùa giỡn với nỗi tuyệt vọng của người khác.

Bối cảnh câu chuyện là khi FBI đang gặp rắc rối với một vụ án giết người hàng loại do Bill Bò Mộng gây ra, người ta gọi hắn như thế vì hắn đã từng lột da đám trâu bò của hắn (!). Điểm đáng sợ nhất trong câu chuyện có lẽ là hành vi bệnh hoạn của Bill Bò Mộng – hắn bắt và giết những cô gái trẻ với thân hình quá khổ, đầy đã, sau đó lột da họ để…mặc lên người. Ban đầu, những vụ án xảy ra rất rời rạc và trông như ngẫu nhiên đến nỗi bên điều tra dường như không tìm được mô thức cho hành động của Bill Bò Mộng. Song Crawford đã nghĩ rằng bác sĩ Lecter “có biết” Bill Bò Mộng và sẽ cung cấp một vài thông tin quan trọng giúp ích cho việc điều tra của FBI.

Phần hấp dẫn nhất trong Sự im lặng của bầy cừu là những lần đối thoại “quid pro quo” (có đi có lại) giữa Starling và Lecter. Những chỉ dẫn đầy ẩn ý của Lecter dành cho Starling, đổi lại đó là những sự kiện trong quá khứ của Starling mà Lecter yêu cầu cô kể cho hắn nghe. Hình ảnh bầy cừu và tiếng kêu của chúng trước khi bị đem đi làm thịt đã ám ảnh Starling trong những giấc mơ được đưa vào rất bình thường nhưng dường như lại lột tả được một Starling yếu đuối, mỏng manh trong mắt bác sĩ Lecter. Những lúc đó, có vẻ như vai trò thẩm vấn giữa hai người bị đảo ngược: Starling là bệnh nhân và Lecter là bác sĩ tâm lí điều trị cho cô.

Các tình tiết trong truyện được đưa dần vào với nhịp độ ngày càng nhanh:

  • Ban đầu là việc Lecter “gửi quà Valentine” cho Starling với chiếc đầu của Klaus được bảo quản trong một chiếc lọ được đặt trong xe của Raspail – nhân tình và cũng là mắt xích liên kết bác sĩ Lector với Bill Bò Mộng.
  • Nạn nhân thứ sáu của Bill Bò Mộng, Kimberly Emberg, được tìm thấy và việc khám tử thi của cô gái bất hạnh này hé lộ cho cả Crawford và Starling một manh mối mới: con nhộng nằm trong miệng của nạn nhân. Và sau đó, họ biết thêm rằng trong cuống họng của Klaus cũng có một con nhộng tương tự. Việc truy tìm nguồn gốc của loài bướm đêm Tử thần này đã mang Starling đến cơ hội làm việc chung với nhà nghiên cứu côn trùng học Pilcher. Sau này, khi đối mặt với Jame Gumb thì nhờ chi tiết về con bướm đêm đã giúp Starling nhận ra hung thủ khi đối diện với hắn lúc hắn chuẩn bị tiến hành những hành vi thú tính với nạn nhân thứ bảy.
  • Tình tiết con gái của thượng nghị sĩ Martin, Catherine Martin, bị bắt cóc bởi Bill Bò Mộng đã đẩy nhanh tiết tấu của câu chuyện. Một loạt những suy tính của Crawford và Starling nhằm khai thác thêm thông thông tin từ bác sĩ Lecter đã bị Frederick Chilton, giám đốc của Bệnh viện Tội phạm Tâm thần Baltimore, làm đổ bể và dẫn đến việc Lecter trốn thoát sau khi giết hai sĩ quan ở nơi giam giữ mới một cách dã man. Còn Starling thì lại bị cho ra khỏi vụ án một cách thô bạo và bị chưởng lý Krendler đề nghị quay trở lại trường sau khi phát hiện ra một vài thông tin nhạy cảm của Catherine Martin với người tình.
  • Khi thời gian còn lại cho Catherine ngày càng ít, Starling đã có những suy nghĩ đột phá khi tìm được những thông điệp của bác sĩ Lecter dành cho cô trong đống hồ sơ mà y gửi trả lại cho cô trước đó. Nhờ đó, Starling đã suy luận ra rằng nạn nhân đầu tiên của Bill Bò Mộng là do sự thèm muốn bộc phát của hắn, và do đó, sẽ gần nơi ở của hắn. Lần theo những thông tin mà người thân của cô gái xấu số đầu tiên, cô đã tìm ra hang ổ của Bill Bò Mộng và sau một màn đấu súng gay cấn trong bóng tối, cô đã hạ gục Jame Gumb.
  • Kết thúc truyện là hình ảnh bác sĩ Lecter đang viết thư cho những “người quen”: anh chàng quản ngục tốt bụng Barney, gã bác sĩ khốn nạn Chilton, cô nàng đáng yêu và mỏng manh Starling và cho cả Jack Crawford.

Hầu hết các tình tiết trong truyện đều được kết nối với nhau với một nhịp độ chậm rãi, không quá nhanh nhưng cũng đủ gây hứng thú cho độc giả khi lần giở từng trang sách. Lúc thì ta cảm thấy nóng mặt với chiêu trò bỉ ổi đặt lén máy ghi âm của Chilton, lúc lại cảm thấy hồi hộp khi tên điên Bill Bò Mộng nhìn vào Starling trong bóng tối với cặp ống nhòm hồng ngoại. Có những khoảng lặng trong truyện, đó là lúc Bella nằm trên giường thở hắt ra từng hơi ngắt quãng và rồi nhẹ nhàng ra đi trong khi tay trong tay với Crawford. Có những lúc khác ta lại cảm thấy lạnh gáy với màn độc thoại (nói chuyện với con chó Bảo Bối) của Jame Gumb về việc may áo da người (!!). Tất cả đã làm nên một tác phẩm tuyệt vời.

Điểm đánh giá: 3,5/5

[Books]Bộ sách Cẩm nang tư duy – Richard Paul, Linda Elder

Thông tin sách

Tên sách:

Cẩm nang Tư duy phản biện – Khái niệm và Công cụ (Số trang: 46, QĐXB: 27/09/2015; ISBN: 978-604-58-3086-4)

Cẩm nang tư duy Đọc (Số trang: 75, QĐXB: 25/10/2015; ISBN: 978-604-58-3089-5)

Cẩm nang tư duy Viết (Số trang: 75, QĐXB: 23/09/2016; ISBN: 978-604-58-3090-1)

Cẩm nang tư duy Học tập và Nghiên cứu (Số trang: 83, QĐXB: 25/10/2016; ISBN: 978-604-58-3091-8)

Cẩm nang tư duy Đặt câu hỏi bản chất (Số trang: 111, QĐXB: 25/10/2016; ISBN: 978-604-58-3088-8)

Cẩm nang tư duy Đạo đức (Số trang: 83, QĐXB: 07/09/2016; ISBN: 978-604-58-5661-1)

Tác giả: Richard Paul, Linda Elder

Dịch giả: Nhóm dịch thuật NXB Tổng hợp TP.HCM

Hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn


Tổng hợp cá nhân

Ai nên đọc và đọc cuốn sách Cẩm nang tư duy nào?

Không phải bất cứ ai cũng cần phải đọc hết bộ sách này, có người chỉ cần đọc 1-2 cuốn để giải quyết các vướng mắc có liên quan đến cuộc sống, các mối quan hệ hay công việc của họ là đủ, nhưng cũng có người sẽ thích đọc hết. Riêng cá nhân tôi thì thấy có vài cuốn phù hợp với chuyên môn của một vài nhóm cá nhân như sau:

  • Cẩm nang tư duy Lịch sử: rất thích hợp cho những người nghiên cứu về lịch sử, những chuyên gia về sử học.
  • Cẩm nang tư duy Kĩ thuật: phù hợp với những người làm việc trong các ngành khoa học, kĩ thuật và ứng dụng.
  • Cẩm nang tư duy Học tập và Nghiên cứu: phù hợp với đối tượng là học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên và nhất là những người làm công việc nghiên cứu.

Những cuốn sau đây thì lại phù hợp với hết thảy mọi người:

  • Cẩm nang tư duy Đọc: hầu hết chúng ta đều tiếp nhận thông tin từ báo (báo giấy hoặc báo điện tử), tạp chí hay sách, đọc thư từ, email hay tin nhắn…nói chung là chúng ta đọc hàng ngày. Không có lí do gì mà không học cách đọc để tiếp nhận thông tin tốt hơn cả.
  • Cẩm nang tư duy Viết: mặc dù phần đông chúng ta viết ít hơn đọc, song đó cũng là một kĩ năng thiết yếu. Hãy nhớ lại những lần viết email hay gửi phản hồi về một sản phẩm nào đó, hoặc đơn giản là mộ đơn xin việc làm, chúng ta viết nhiều nhưng viết chưa thực sự tốt. Viết để đọc, viết để học, cho nên mỗi người cũng cần trang bị cho mình một cuốn.
  • Cẩm nang Tư duy phản biện: suy nghĩ đúng, hành động (có lẽ) sẽ đúng. Mà đọc và viết cũng là những hành động thể hiện cho suy nghĩ, tâm tư và tình cảm của chúng ta.
  • Cẩm nang tư duy Đặt câu hỏi bản chất: chúng ta thường hỏi nhiều nhưng chất lượng của các câu hỏi lại kém, và vì chất lượng kém nên chúng lại dẫn dắt ta đi sai hướng ngay từ ban đầu. Đối diện với mỗi tình huống phát sinh thường ngày, nhiều người thường lựa chọn cách làm theo thói quen hoặc kinh nghiệm của bản thân – điều này giúp chúng ta tiết kiệm được thời gian song lại cản trở chúng ta tư duy và sáng tạo, đôi lúc lại dẫn đến những quyết định tai hại. Những người khác đặt ra những câu hỏi cho những tình huống này và dựa vào đó để giải quyết – những người này thường có khả năng tư duy tốt hơn nên làm việc cũng năng suất và hiệu quả hơn, tuy vậy, nếu định hướng từ đầu đã không đúng thì lại dẫn đến kết quả không như mong muốn. Dẫu sao, lựa chọn là ở bạn!
  • Cẩm nang tư duy Đạo đức: đối với tôi thì đây là vấn đề cốt lõi cho lối sống hiện nay của mọi người. Xã hội ngày nay đang phát triển (theo tôi) một cách thiên lệch về kĩ năng, công việc và thu nhập trong khi lại bỏ qua các chuẩn đạo đức truyền thống tốt đẹp của những thế hệ trước. Tôi không nói tất cả, mà là phần lớn mọi người là như thế. Cuốn sách này không chỉ là phù hợp, theo tôi thiết nghĩ, mà là thực sự cần phải có cho mỗi cá nhân.

Phần tiếp theo tôi sẽ tổng hợp lại những nội dung mà theo tôi (và cũng là cho cá nhân tôi) là quan trọng. Mọi người nên đọc từng cuốn trong bộ sách để chọn cho mình một (vài) cuốn phù hợp hơn cả.

Tổng hợp nội dung theo ý kiến cá nhân

1.    Những yếu tố của tư tưởng

  • Mục đích của lập luận này là gì?

Mọi lập luận đều có mục đích của nó, và chúng phải được phát biểu một cách rõ ràng trước khi tranh luận. Mục đích cần đảm bảo tính thực tế và phải được tập trung xuyên suốt nội dung trình bày.

Khi đọc một nội dung, ta cần biết được mục đích của tác giả khi viết nó (mục đích cuối cùng của họ khi viết những điều này là gì?) và thông thường thì họ sẽ trình bày chúng ở phần mở đầu hoặc phần kết thúc đối với mỗi nội dung. Lấy ví dụ với sách, ta nên đọc lời tựa, chương đầu (thường là chương dẫn nhập vấn đề) và chương cuối (hoặc phần bình của tác giả ở cuối sách, nếu có). Trong quá trình đọc, ta cũng nên thường xuyên xem lại những mục tiêu này để đối chiếu liệu tác giả có đang tập trung vào mục đích hay đang mở rộng vấn đề sang một hướng khác có liên quan hoặc không liên quan.

Khi viết, ta trình bày mục đích một cách cụ thể và rõ ràng ngay ở phần đầu – thông tin đến cho độc giả biết là ta đang muốn đề cập hoặc giải quyết vấn đề gì, sau đó (có thể) nhấn mạnh thêm một lần nữa ở phần cuối – khẳng định lại hoặc đề xuất giải pháp cho những vấn đề được nêu trước đó. Trong quá trình viết, tự nhắc bản thân là ta muốn viết về điều gì, và những gì ta đang viết có phục vụ điều đó hay không.

Khi tranh luận, ta nên đề nghị mọi người trình bày mục đích của họ trước khi hỏi hoặc phản biện lại lập luận của họ. Trong quá trình tranh luận, nếu họ diễn giải vấn đề lệch hướng hoặc dẫn sang một vấn đề khác thì yêu cầu họ điều chỉnh trở lại và tập trung giải quyết vấn đề ban đầu. Đôi khi, chúng ta quá ham tranh luận và dẫn vấn đề đi quá xa nên cuối cùng không giải quyết được những mục tiêu đề ra trước đó.

  • Chúng ta đang trả lời cho những câu hỏi nào?

Có những câu hỏi chỉ có một câu trả lời duy nhất, không phụ thuộc vào đạo đức của chúng ta, giống như việc luộc chín trứng gà. Những câu hỏi khác thì có nhiều hơn một câu trả lời hợp lý, và mặc dù có thể được củng cố bằng phán đoán hay các sự kiện, mỗi cá nhân lại có một cách trả lời khác nhau như việc ăn tôm sống thì nên chấm mù tạt hay muối ớt cay vậy.

Tìm hiểu câu hỏi cốt lõi mà tác giả nghĩ đến khi viết ra những nội dung này. Những mẩu thông tin ngắn hoặc một bài viết xã luận đơn giản thì thường chỉ có một câu hỏi, trong khi những nội dung lớn hơn như sách, tài liệu học thuật thì thường chứa một hoặc nhiều câu hỏi phức hợp, liên ngành. Việc xác định được loại câu hỏi có thể giúp ta hình dung ra cách thức mà tác giả giải quyết vấn đề cũng như để nắm bắt nội dung tốt hơn.

Khi vào vai trò của người viết, ta có thể diễn đạt câu hỏi cốt lõi của ta bằng cách tách ra những câu hỏi nhỏ hơn và giải quyết ngay sau đó để độc giả tiện theo dõi cũng như theo dõi lập luận của ta.

Khi tranh luận, ta cũng nên chia vấn đề ban đầu thành các câu hỏi nhỏ hơn để làm rõ những thắc mắc về vấn đề gây tranh cãi. Qua đó ta có thể dễ dàng xử lý câu hỏi gốc thông qua các câu hỏi cụ thể và kiểm tra xem những lập luận của đối phương có đang thực sự là nhằm giải quyết những vấn đề đó hay không.

  • Góc nhìn của bạn là gì?

Mọi người đều đưa ra ý kiến từ góc nhìn của bản thân, mà ít khi chịu nhìn nhận vấn đề từ một góc độ khác. Nếu ta nhìn một khối hình nón từ trên xuống, ta sẽ thấy nó có dạng như hình tròn; còn nếu ta nhìn ngang thì ta sẽ thấy đó là hình tam giác – thực tế thì, nó vẫn là khối hình nón mà thôi.

Khi đọc, ta cần làm rõ góc nhìn của tác giả đối với vấn đề mà họ trình bày (họ nhìn nhận vấn đề này dưới vai trò nào?). Trước khi đọc nội dung của một cuốn sách, ta có thể tìm hiểu về tác giả và đọc một số lời bình phẩm cho sách. Như vậy, ta sẽ biết được tác giả đang nhìn nhận vấn đề này ở góc độ cá nhân (niềm tin, quan điểm, kinh nghiệm) hay ở góc độ xã hội (ảnh hưởng của nơi tác giả lớn lên, học tập, làm việc hay sinh sống), tác giả có liên hệ với những góc nhìn khác hay không. Việc này rất có lợi cho việc viết vì chúng ta được tiếp cận nhiều góc độ khác nhau từ nhiều tác giả đối với cùng một vấn đề.

Khi viết, ta cần nêu lên quan điểm nhìn nhận vấn đề của bản thân để độc giả hiểu và cảm thông hơn cho ta. Bên cạnh đó, ta cũng cần phải tìm hiểu (các) góc nhìn của độc giả để có thể giải thích những lập luận của ta cho họ hiểu. Vì tính chất của việc viết nên ta không dễ nhìn từ góc độ của độc giả một cách trực tiếp (bằng cách hỏi và đáp), thay vào đó ta có thể giả định một số góc nhìn mà ta đã biết trước đó.

Góc nhìn của mỗi người, nói chung, là không hoàn toàn giống nhau. Song, chúng dựa trên nhận thức của chúng ta, thứ mà ta có thể truy nguyên dựa vào nơi ta lớn lên, ta được giáo dục như thế nào và ta làm công việc gì. Mỗi góc nhìn cá nhân đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, do đó khi lập luận một vấn đề ta cần xét nhiều hơn một góc nhìn để có cái nhìn tổng quát và phù hợp hơn. Không nên tranh cãi quá gay gắt chỉ vì khác biệt về niềm tin, vì nhìn chung thì những gì ta tin tưởng cũng chỉ là tương đối.

  • Giả định cho những lập luận này là gì?

Mọi lập luận đều dựa trên các giả định (và phải như vậy) và những giả định này có thể được biện minh. Có những giả định là những điều hiển nhiên, nhưng cũng có những giả định cần được tra vấn hợp lí. Tranh luận mà không dựa vào giả định tốt, cũng giống việc xây cao ốc trên một nền đất yếu mà không làm cọc khoan nhồi, đều dẫn đến những kết quả sai lệch hoặc thất bại.

Mỗi tác giả luôn có một vài giả định trước khi viết một nội dung nào đó. Nếu họ không đề cập đến, nghĩa là họ nghĩ rằng đó là những điều hiển nhiên, thì việc của ta là tìm ra và kiểm chứng. Những giả định này có thể định hình góc nhìn và giúp cho chúng ta hiểu vì sao tác giả lại diễn giải theo hướng này mà không không phải là hướng kia. Hơn nữa, kiểm chứng được những giả định này có hợp lí, phù hợp hay không sẽ chỉ ra những sai lầm hay thiên lệch của tác giả, giúp ta tránh được những hiểu biết không đúng.

Để không phải ngồi nhìn tòa cao ốc ở trên “chìm dần” vào đất, ta cần trình bày những ý kiến của mình dựa trên những giả định vững chắc và hợp lí. Muốn được như vậy, mỗi khi bắt đầu viết ta cần biết được những giả định nào mà ta sẽ sử dụng và những lập luận được trình bày có thực sự dựa trên giả định này hay không. Chất lượng của giả định sẽ quyết định chất lượng của lập luận, và để nâng cao chất lượng của các giả định thì ta cần tự bổ sung kiến thức (đọc sách, báo, tài liệu chuyên ngành) và cập nhật các hiểu biết đã được kiểm chứng.

Khi tranh luận, bằng cách nêu rõ các giả định cũng như xác định được giới hạn của các giả định này sẽ giúp ta tập trung vào vấn đề cần giải quyết, hiểu hơn về góc nhìn của mọi người và cũng tránh được những tranh cãi không cần thiết do dựa trên những giả định không tốt.

  • Bạn dựa vào những thông tin, dữ kiện hay bằng chứng nào để giải thích/củng cố cho lập luận này?

Ai cũng có thể nói, thậm chí nói rất tốt, cho đến khi ta yêu cầu họ đưa ra bằng chứng hoặc dẫn chứng cụ thể. Không có dữ kiện hay bằng chứng củng cố thì lập luận của ta cũng chỉ như ngôi nhà làm bằng giấy vậy, đẹp và rất mỏng manh.

Để củng cố lập luận, các tác giả đều đưa ra những số liệu, dữ kiện, dẫn chứng nghiên cứu vào trong bài viết của mình. Tuy nhiên, không phải thông tin nào cũng đúng và chính xác, hoặc những chi tiết được đưa ra rất cụ thể nhưng lại chẳng liên quan đến vấn đề đang đề cập. Đôi lúc tác giả lại sử dụng những thông tin sai để đánh lừa dư luận hay nhằm trục lợi cho bản thân. Do đó, kiểm chứng thông tin là cách để ta vừa có thể tiếp nhận tốt hơn các lập luận của tác giả, vừa giúp ta bác bỏ những suy luận sai lầm nếu có của tác giả. Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng truy cập nguồn thông tin vô hạn trên Internet, nhưng ngoài việc tìm ra thông tin nào thực sự cần thiết thì ta còn phải sàng lọc và loại bỏ những thông tin giả, “bẩn” được phát tán tràn lan trên mạng.

Tương tự như vậy, để chứng minh cho một luận điểm hay bảo vệ quan điểm của bản thân thì ta cần viện thêm dẫn chứng, bằng chứng một cách thuyết phục. Các nghiên cứu chuyên ngành cung cấp thông tin rất đáng tin cậy, thông tin từ sách, báo – đài và ti-vi cũng rất hữu ích, ngoài ra ta còn có thể hỏi ý kiến từ các chuyên gia, bổ sung (và kiểm tra lại) hiểu biết và sự kiện từ những người bạn, đồng nghiệp. Khi viết, ta cần trích dẫn nguồn một cách chính xác để đảm bảo cho lập luận của bản thân và tránh những hiểu lầm không đáng có (vấn đề đạo văn). Tôi đang sử dụng Microsoft Word (phiên bản 2016) để soạn văn bản và tôi thấy các công cụ trên tab References của nó rất hữu ích trong việc trích dẫn, đặc biệt là mục Research.

Bằng chứng nào ủng hộ lập luận này của bạn? Dữ kiện này có đúng hay không và nó có liên quan gì đến vấn đề mà ta đang tranh luận ở đây không? Không phải thông tin nào ta cũng biết hoặc sẵn có để ta tham khảo, vì vậy, nếu cảm thấy bối rối trước một số liệu nào đó thì ta nên đề nghị đối phương cung cấp cho ta nguồn dẫn của họ. Những khác biệt về dữ liệu hay sự kiện có thể là do nguồn cung cấp hoặc cũng có thể là do cách thức thu thập hay tính toán thống kê gây ra.

  • Lý thuyết hay khái niệm nào định hình cho lập luận của bạn?

Những lập luận tốt thì đều dựa trên những lý thuyết và khái niệm cốt lõi và thể hiện thông qua chúng. Khi tôi nói rằng nếu cứ leo trèo như thế, theo thuyết Vạn vật hấp dẫn của Newton, thì bạn sẽ bị té sấp mặt đấy – tôi chỉ đùa thôi, ý tôi là đừng làm như thế vì Newton, mà hãy vì cái mông của bạn.

Nếu thường xuyên đọc báo cáo tài chính của ngân hàng thì bạn không lạ gì những cụm từ như “vốn điều lệ” hay “tỉ lệ dự phòng”, nhưng nếu là người ngoại đạo thì bạn sẽ đôi phần bối rối khi đọc những phân tích này nếu không được giải thích những thuật ngữ này là gì. Và mỗi lĩnh vực lại có những từ chuyên môn riêng mà không phải ai cũng biết và hiểu hết. Bên cạnh đó là các lý thuyết, mỗi lý thuyết bao hàm một mảng kiến thức cụ thể và đặc thù mà hiếm có người nào tinh thông hết thảy. Do đó, khi đọc những nội dung có liên quan tới những khái niệm, những lý thuyết mà ta chưa biết và điều này khiến ta không thể hiểu hết được tác giả đang diễn đạt điều gì thì tốt nhất ta nên tìm hiểu lại trước khi vướng những rắc rối tiếp theo. Mặc dù trong một số trường hợp ta vẫn có thể nắm bắt được kết luận cuối cùng mà không cần biết nội dung của những khái niệm hay lý thuyết đó là gì, song không có gì đảm bảo là không có lầm tưởng trong tư duy giống như việc “mèo mù vớ phải cá rán” vậy.

Thường thì các lý thuyết và khái niệm đều yêu cầu một số giả định phù hợp. Vì vậy khi ta muốn sử dụng những lý thuyết và khái niệm này trong bài viết của mình thì ta cần phải thỏa mãn cho các giả định của nó. Ví dụ, trong thống kê, khi tiến hành phân tích phương sai ANOVA thì ta cần có giả định dữ liệu tuân theo phân phối chuẩn còn nếu không có giả định này (và ta cũng không áp dụng Định lí giới hạn trung tâm được) thì phải thay thế bằng kiểm định Kruskal – Wallis. Tóm lại, đối với những định nghĩa được đưa vào bài viết thì ta phải giải thích ý nghĩa của chúng cho độc giả và (nên) minh họa bằng hình ảnh hoặc công thức đơn giản; còn nếu ta muốn sử dụng một lý thuyết để làm vững chắc hơn cho diễn giải của bản thân thì ta cần làm rõ sự phù hợp của chúng trong bối cảnh mà ta trình bày; và cuối cùng, ta phải đảm bảo sử dụng chính xác các khái niệm và lý thuyết trong lập luận.

Trong tranh luận, ngoài việc xác định những khái niệm, nguyên tắc, mô hình, lý thuyết mà đối phương và ta đang sử dụng, ta còn phải chắc rằng ta đã hiểu rõ những giải thích khác nhau dựa trên những khái niệm và lý thuyết đó. Ta chỉ có thể hiểu những khái niệm và lý thuyết khi nào ta có thể diễn đạt chúng một cách trôi chảy và trung thực, nếu không thì ta vẫn chưa thực sự hiểu. Tránh việc bóp méo các ý niệm với bất kì mục đích nào hay cung cấp thông tin sai lệch nhằm tư lợi cho bản thân.

  • Kết luận của bạn là gì?

Nếu không suy luận hay diễn giải thì các dữ kiện chẳng có ý nghĩa gì cả, và cũng chẳng có kết quả nào cả. Làm sao ta biết được tình hình hoạt động kinh doanh của công ti năm nay tốt hơn năm trước, chẳng phải nhờ vào việc ta phân tích được rằng trong năm vừa qua doanh thu tăng trong khi các khoản chi phí lại giảm, và sau đó tổng hợp lại thì thấy lợi nhuận tăng lên so với năm trước đấy thôi.

Khi đọc một cuốn sách, có rất nhiều kết luận và ta cần biết biết cái nào là quan trọng và cái nào thì thực sự cần thiết cho ta. Đa số các kết luận đều được rút ra sau một quá trình suy luận hay diễn giải, và do đó thường nằm ở cuối một nội dung. Các kết luận đều hướng tới mục đích chung của cuốn sách, do đó ta có thể sử dụng các kết luận này để đối chiếu việc tác giả có đang tập trung vào nó hay không. Điều này cũng tương tự khi đọc báo, tạp chí, các nghiên cứu hoặc một mẩu tin tức nào đó.

Khi viết, ta cần học cách tóm lại nội dung sau mỗi phần. Một mặt, điều này giúp ta tránh diễn giải lan man và không cần thiết, mặt khác nó giúp ta định hướng lại tâm thế khi đọc tác phẩm của ta. Kết luận hay sẽ giúp độc giả nắm bắt vấn đề tốt hơn, có trọng tâm và hiểu rõ hơn những lập luận của ta.

Suy luận nhất quán, đồng thời xem xét tới những suy luận khác trong suốt quá trình tranh luận giúp ta có được một kết luận đầy đủ và hợp lý. Bên cạnh đó, ta cần phải chú ý sử dụng những dữ kiện, số liệu mà ta hoặc đối phương cung cấp để làm vững chắc thêm những kết luận của ta.

  • Hàm ý và hệ luận của bạn là gì?

Nếu chấp nhận những lập luận này, thì chúng sẽ dẫn chúng ta đến đâu?

Một khi đã chấp nhận những lập luận có lô-gic của tác giả, ta cần biết rằng tác giả đang muốn dẫn chúng ta đến điều gì. Nếu không thì tất cả những lập luận ở trên đều trở thành một mớ những vụn vặt có ý nghĩa. Như những kho báu của hải tặc, thường được tìm thấy ở cuối mỗi bộ phim, ta cũng có thể (may mắn) tìm thấy hàm ý của tác giả ở những dòng cuối cùng của bài viết. Hàm ý và hệ luận không phải là mục đích. Nó vượt ra ngoài cả mục đích, liên kết các lập luận lại với nhau để soi rõ con đường tri thức cho chúng ta đi tiếp.

Khi chúng ta viết, ta cần ý thức được rằng có những mối liên hệ vô hình giữa các lập luận và chúng sẽ định hình cho độc giả biết hàm ý mà ta muốn gửi gắm ở đây là gì. Để làm được điều này thì ta cần xác định hàm ý trước, sau đó xây dựng một “đề cương” về những lập luận mà ta sẽ trình và quan trọng nhất là sợi dây liên kết những lập luận này đến hàm ý của ta.

Vấn đề đối với tranh luận cũng tương tự như khi ta viết vậy. Tuy nhiên, khi tranh luận thì ta phải vận dụng bộ não để xây dựng những liên kết này trong tâm trí, không phải ở trên giấy và vì thế, nên sẽ kém trực quan hơn khi viết. Hơn nữa, ta dễ dàng chỉnh sửa và có thể làm nhiều lần trước khi hoàn chỉnh một nội dung nào đó, còn khi tranh luận ta không có đủ thời gian để làm điều này.

Những câu hỏi:

Mục đích chính của lập luận này là gì?

Câu hỏi cốt lõi mà lập luận này muốn đề cập là gì? Có thể chia thành các câu hỏi nhỏ hơn để giải quyết hay không?

Góc nhìn của ta đối với vấn đề này như thế nào? Chủ quan cá nhân hay là chủ quan xã hội?

Lập luận này dựa trên những giả định gì? Có thể biện minh cho những giả định này không? Những giả định này định hình góc nhìn của ta như thế nào?

Những thông tin, dẫn chứng hay sự kiện nào ta có thể sử dụng cho lập luận này? Chúng có đúng và đáng tin cậy hay không? Chúng có liên quan đến lập luận của ta hay không?

Lý thuyết hay khái niệm nào được sử dụng trong lập luận của ta? Có thể diễn đạt chúng lại cho dễ hiểu hơn được hay không? Chúng có phù hợp với giả định của ta hay không?

Kết luận của lập luận này là gì? Ta có suy luận nhất quán không? Ta đã suy luận theo những hướng khác chưa?

Nếu những lập luận của ta là đúng thì nó sẽ dẫn ta đến điều gì? Những lập luận này có liên kết với nhau không?

2.    Các chuẩn trí tuệ phổ quát

Các chuẩn trí tuệ này nên là chuẩn mực cho mỗi tư duy của chúng ta, trở thành tiếng nói bên trong và định hướng cho những lý luận của ta trở nên tốt hơn.

  • Sự rõ ràng: ta không thể nói gì về một phát biểu không rõ ràng, vì nó vốn chưa (thực sự) nói gì cả. Ta có thể khắc phục bằng cách yêu cầu làm rõ phát biểu, đề nghị diễn đạt lại theo một cách khác hay cung cấp một ví dụ minh họa.
  • Sự đúng đắn: một phát biểu đúng đắn thì có thể kiểm tra được.
  • Sự chính xác: cụ thể hơn, nhiều chi tiết hơn.
  • Tính liên quan: sự kết nối giữa câu trả lời và câu hỏi.
  • Chiều sâu: tính phức hợp – một phát biểu/câu hỏi có thể hàm chứa nhiều hơn một vấn đề.
  • Chiều rộng: xem xét cùng một vấn đề dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
  • Tính lô-gic: các lập luận được kết nối một cách có ý nghĩa.
  • Sự công bằng: xử lí mọi quan điểm có liên quan một cách như nhau, không thiên lệch về tình cảm hay lợi ích riêng.

3.    Những đặc trưng của trí tuệ cơ bản

  • Khiêm tốn trí tuệ: ta không nên phát biểu nhiều hơn những gì ta thực sự biết. Đồng thời phải tự nhận thức được khiếm khuyết trong nền tảng lô-gic của ta.
  • Can đảm trí tuệ: nhận ra rằng những kết luận và niềm tin của ta đôi khi là sai lầm. Và do đó, ta học cách lắng nghe một cách chân thành, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động, biết phê phán những gì được học.
  • Cảm thông trí tuệ: biết đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu họ.
  • Tự trị trí tuệ: cam kết là sẽ phân tích và đánh giá những niềm tin dựa trên cơ sở của lý trí và bằng chứng, sẵn sàng đặt câu hỏi – tin tưởng – tuân theo khi cảm thấy hợp lý.
  • Chính trực trí tuệ: áp dụng các chuẩn trí tuệ một cách nhất quán, và nếu có sơ sót thì phải thực lòng thừa nhận; tự đặt ra những chuẩn mực như nhau giữa ta và những người phản đối ta, sẵn sàng thực hiện những gì ta tán thành cho người khác.
  • Bền bỉ trí tuệ: sẵn sàng tranh đấu với những bất minh bất chấp việc phải tốn một thời gian dài để đạt được hiểu biết hay nhận thức sâu sắc hơn.
  • Tin vào Lý tính/Lý trí: tin tưởng rằng về lâu dài lợi ích của ta sẽ cao hơn nếu ta thực sự chịu tư duy.
  • Công bằng: đối xử bình đẳng như nhau dưới mọi góc nhìn.

4.    Các loại câu hỏi

a.     Câu hỏi phân tích

Đặt câu hỏi về cấu trúc tư duy: các câu hỏi có liên quan đến những yếu tố của tư tưởng (xem lại phần 1. Những yếu tố của tư tưởng)

Ba loại câu hỏi hệ thống

Câu hỏi một hệ thống: những câu hỏi này thường chỉ có một câu trả lời đúng đắn. Để trả lời những câu hỏi loại này thì cần có bằng chứng và lập luận bên trong một hệ thống (môn học, lĩnh vực, ngành nghề). Kết quả của câu hỏi dạng này sẽ đưa ta đến với tri thức => các câu hỏi về toán học, các bộ môn khoa học như vật lí và sinh học.

Câu hỏi phi hệ thống: câu trả lời cho những câu hỏi này thường là một ý kiến chủ quan do nó đòi hỏi sự ưu tiên chủ quan từ người trả lời. Kết quả là ta không thể đánh giá được những câu trả lời này là đúng hay sai => các câu hỏi về cảm nhận cá nhân.

Câu hỏi đa hệ thống: do cần bằng chứng và lập luận từ nhiều hệ thống, mà những hệ thống này thường xung đột với nhau, những câu trả lời cho câu hỏi đa hệ thống có thể tốt hơn hay tệ hơn bình thường. Kết quả là ta chỉ thu được những phán đoán => các câu hỏi về bộ môn nhân văn như lịch sử, triết học, kinh tế, xã hội học, nghệ thuật.

Câu hỏi về thuyết Tuyệt đối giáo điều và thuyết Tương đối chủ quan

Theo thuyết Tuyệt đối giáo điều: mọi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng

Theo thuyết Tương đối chủ quan: mọi câu hỏi đều thuộc về ý kiến cá nhân, do đó không có câu trả lời đúng hay không đúng. Những người theo thuyết này thường cố gắng biến những câu hỏi đòi hỏi phán đoán có lý lẽ thành câu hỏi ưu tiên sự chủ quan của cá nhân, ngụy – tư duy phản biện, và kết luận rằng tư kiến của mọi người là như nhau.

Để đưa về một trong ba dạng câu hỏi hệ thống ở trên thì ta nên đặt thêm một số câu hỏi để xác định cụ thể: Ta có cần xem xét thêm những sự kiện liên quan nào nữa hay không?

Câu hỏi về các Khái niệm

Những câu hỏi mang tính Định nghĩa: để trả lời, ta cần hiểu nghĩa có sẵn của các từ và cách chúng áp dụng riêng vào những trường hợp và hoàn cảnh.

Những câu hỏi Phi định nghĩa – Khái niệm phức hợp:

  • Xem xét những trường hợp điển hình của khái niệm
  • Xem xét những trường hợp đối lập với khái niệm
  • Xem xét những trường hợp liên quan, tương tự
  • Xem xét những trường hợp vừa mang đặc điểm điển hình, vừa mang đặc điểm khác với điển hình.

Câu hỏi nhận diện những câu hỏi đi trước

Nhận diện ra những câu hỏi được tiền giả định trong một câu hỏi mà ta đang quan tâm.

b.    Câu hỏi đánh giá

Đánh giá lập luận (tổng quát): các câu hỏi có liên quan đến các chuẩn trí tuệ phổ quát (xem lại phần 2. Các chuẩn trí tuệ phổ quát)

Đánh giá lập luận (bộ phận): các câu hỏi có liên quan đến các yếu tố của tư tưởng (xem lại phần 1. Những yếu tố của tư tưởng)

5.    Đánh dấu ý khi đọc

Diễn giải

Kí hiệu

Ý tưởng, khái niệm Khoanh tròn
Định nghĩa Gạch chân
Kết luận quan trọng Dấu cảm thán
Những chỗ không hiểu Viết câu hỏi hoặc sử dụng dấu chấm hỏi.
Những chỗ khó hiểu Kí hiệu [prob]
Thông tin, dữ liệu, bằng chứng Kí hiệu [info]
Góc nhìn của tác giả Kí hiệu [pov]
Giả định Kí hiệu [assump]
Hàm ý Kí hiệu [implic]
Công thức hóa những ý tưởng Công thức
Lập sơ đồ thể hiện các mối quan hệ Sơ đồ

6.    Về tư duy Đạo đức

Các quyết định đạo đức đòi hỏi hiểu biết có chiều sâu. Vấn đề chính không phải là phân biệt rạch ròi giữa cái giúp ích và cái gây hại, song khuynh hướng tự nhiên của ta lại gần như tập trung chuyên biệt vào chính bản thân mình và những người có quan hệ gần gũi với mình. Kết quả là, chỉ ít người (trong bất kì xã hội nào) hành động nhất quán dựa trên các nguyên tắc đạo đức khi ứng xử với “kẻ bên ngoài”. Chúng ta thường sử dụng chuẩn kép trong việc áp dụng các nguyên tắc đạo đức vào trong cuộc sống, và do đó, khiến cho ta (thường xuyên) có những quyết định sai lầm. Người có động cơ đạo đức phải học nghệ thuật tự phản biện và phản biện xã hội cũng như tự kiểm điểm đạo đức.

Phần lớn nhận thức đạo đức nhận thức của ta đến từ một sự nhìn nhận thấu đáo những sự không nhất quán trong hành vi của con người, chẳng hạn như nói một đàng làm một nẻo, áp dụng chuẩn này cho mình và chuẩn kia cho người khác. Có 3 mẫu mở rộng tính cách của con người:

  • Người không phản biện: không quan tâm đến việc phát triển các năng lực trí tuệ, do đó họ dễ bị thao túng bởi những người phản biện tư lợi. Kết quả là trở thành nạn nhân hay bị dẫn dắt mù quáng để làm những việc không tốt cho người khác.
  • Người phản biện tư lợi: những người này quan tâm đến việc phát triển các năng lực trí tuệ chỉ để phục vụ cho lợi ích bản thân. Họ thường thao túng những người có đầu óc đơn giản hơn, khiến cho những người này trở thành người bị hại, gián tiếp hoặc trực tiếp. Những người phản biện tư lợi là những kẻ vô đạo đức, tự cho mình là công chính và tự lựa mình.
  • Người phản biện có tinh thần công bằng: họ quan tâm đến việc phát triển các năng lực trí tuệ để phục vụ cho mình nhưng vẫn tôn trọng quyền và nhu cầu của người khác. Họ luôn cố gắng hành động ngay thẳng và kết quả là trở thành những người (sẽ) được đối xử một cách hợp lý và công bằng. Những người phản biện có tinh thần công bằng là những người có đạo đức, biết cảm thông và công chính.

Đạo đức học và giả – đạo đức học:

Điều cốt lõi là phải phân biệt đạo đức học với những phương cách tư duy khác vốn hay thường bị lẫn lộn với đạo đức học, dưới đây là 4 lĩnh vực thường hay bị nhầm lẫn với đạo đức học nhất:

Tôn giáo: các tín ngưỡng tôn giáo, khi ngự trị trong một nhóm người, có xu hướng định hình nhiều phương diện cuộc sống của một người với các qui tắc, đòi hỏi, cấm kị và nghi lễ. Tự bản thân của những tín ngưỡng này không đúng mà cũng không sai, chúng chỉ đơn giản là đại diện cho những ưu tiên xã hội và những lựa chọn chủ quan trên phương diện văn hóa.

Các qui ước xã hội: ngay từ đầu, chúng ta đã bị quy định về mặt xã hội. Những lối sống truyền thống bên trọng mỗi nhóm xã hội hoặc văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia, khiến cho đối với những cá nhân trong một nhóm cố định thì chúng có vẻ là cách duy nhất và hợp lí để hành động. Đặc biệt, đối với các cấm kị tính dục, nhiều người quên rằng những gì với bản thân là đáng lên án về mặt xã hội có thể lại không vi phạm bất kì nguyên tắc đạo đức nào, mà thay vào đó, có thể chúng chỉ đơn giản là khác với các qui ước xã hội.

Ý hệ chính trị: một ý hệ chính trị sẽ mang lại một phân tích về việc phân phối hiện tại về của cải và quyền lực, và đưa ra các chiến lược phù hợp với phân tích đó. Hầu hết mọi ý hệ chính trị đều phát ngôn nhân danh “con người”, song trên thực tế thì hầu hết chúng lại cam kết với các nhóm lợi ích tư lợi có quyền lực. Khi đấu tranh lẫn nhau giành quyền lực và sự kiểm soát, các phong trào và các lợi ích chính trị thường hi sinh các lý tưởng đạo đức cho lợi ích thực tế.

Pháp luật: các luật thường nảy sinh từ các qui ước và cấm kị xã hội. Có những điều mang tính nghĩa vụ đạo đức có thể phạm pháp trong khi những điều vô đạo đức lại hợp pháp, nói chung, không có sự kết nối bản chất nào giữa đạo đức học và pháp luật.

Những hành vi sau đây tự-nó-và-vì-nó là vô đạo đức:

  • Nô lệ
  • Diệt chủng
  • Khủng bố
  • Tra tấn
  • Phân biệt giới tính
  • Phân biệt chủng tộc
  • Sát nhân
  • Hành hung
  • Hiếp dâm
  • Lừa gạt
  • Dối trá
  • Đe dọa
  • Trừng phạt người khác mà không cho họ biết họ bị kết tội gì hay cho họ cơ hội hợp lí để tự biện hộ
  • Trừng phạt người khác chỉ vì những quan điểm chính trị hay tôn giáo của họ.

Về ý nghĩa của các sự kiện và góc nhìn đối với đạo đức học:

Có nhiều góc nhìn khác nhau để nhìn và diễn giải một nhóm sự kiện phức tạp. Việc cởi mở với một dãy nhận thức từ nhiều góc nhìn đa dạng và việc sẵn lòng tra vấn góc nhìn của ta là điều cốt yếu cho “tính khách quan”. Để lập luận khách quan xuyên suốt một vấn đề đạo đức phức tạp, ta phải xem xét một dãy rộng các góc nhìn có liên quan, đạt được nhận thức sâu sắc từ tất cả các góc nhìn đó, nhận ra những điểm yếu và tính thiên lệch của mỗi góc nhìn, và tích hợp những gì ta học được thành một góc nhìn toàn bộ, nhiều khía cạnh và bao quát hơn. Ai cũng chỉ biết được một phần nhỏ sự kiện, nên không thể nào trình bày được hết mọi sự kiện (cho dù nếu một người biết hết sự kiện, không có gì đảm bảo là họ sẽ trình bày được toàn bộ chúng mà không có bỏ sót sự kiện nào). Ta vốn không thể trình bày mọi sự kiện quan trọng được, vì dù biết hết các sự kiện thì ta vẫn cần nhiều tiêu chí đối chọi nhau để xác định cái gì là “quan trọng”.

Những yếu tố của lập luận đạo đức và lô-gic của một câu hỏi đạo đức:

Xem phần 1.Những yếu tố của tư tưởng.

7.    Những vấn đề cần tránh khi tư duy

a.     Vấn đề của tư duy “lấy cái Tôi làm trung tâm”

Nó đúng vì tôi tin nó! – niềm tin cá nhân.

Nó đúng vì chúng tôi tin nó! – niềm tin của nhóm.

Nó đúng vì tôi muốn tin nó! – tin vào những gì mà bản thân “cảm thấy tốt”.

Nó đúng vì tôi luôn luôn tin nó! – tin vào những niềm tin lâu đời dù có bằng chứng biện minh hay không.

Nó đúng vì tin nó là lợi ích vị kỉ của tôi! – tin vào những gì biện minh cho việc tôi có được nhiều lợi ích cá nhân hơn.

b.    Vấn đề của tư duy “lấy xã hội làm trung tâm”

Luôn đặt văn hóa, dân tộc, tôn giáo của mình lên trên của người khác.

Ưa thích những mô tả tích cực về bản thân và những mô tả tiêu cực về người khác.

Tuân phục một cách mù quáng những quy định, luật lệ của nhóm.

Tư duy bị kìm hãm bởi những định kiến truyền thống của nền văn hóa.

Không chịu nghiên cứu và tìm hiểu về các nền văn hóa khác.

Nhầm lẫn giữa đạo đức và cấm kị văn hóa.

Không có đầu óc phê phán truyền thông đại chúng.

Không có đầu óc tư duy một cách lịch sử và một cách nhân học.


Đôi lời của bản thân và đánh giá

Tôi đặt mua bộ sách này trong đợt sinh nhật của Fahasa, trong một nỗ lực đảm bảo số lượng sách từ 10 cuốn trở lên để hưởng ưu đãi giảm 10% cho giá trị của đơn hàng. Và tôi cảm thấy bộ sách này khá là hữu ích và cần thiết cho hầu hết mọi người.

Mặc dù là một người hay đọc sách (khoảng 50 cuốn sách mỗi năm) nhưng tôi vẫn cảm thấy kĩ năng đọc của mình chưa thực sự tốt. Thời gian mà tôi đọc xong một cuốn sách khoảng 200 trang là khoảng 1-2 tuần, thậm chí có khi tôi tốn gần 1 tháng để đọc một cuốn sách chỉ dày khoảng 300 trang. Chất lượng đọc cũng là một vấn đề, có nhiều cuốn sách mà tôi, sau khi đã đọc xong chúng, quên đến hơn 80% nội dung, cá biệt là có những cuốn mà tôi chẳng còn chút ấn tượng nào sau khi cất chúng vào thùng. Một vấn đề nữa là tôi không có hứng đọc những cuốn sách hồi kí, truyện dài hay tiểu thuyết cho dù tôi nghĩ rằng tôi vẫn nên tìm hiểu ít nhiều và cũng để cho tâm hồn thêm mơ mộng (tôi nghĩ điều này sẽ có ích cho góc nhìn của tôi đối với cuộc sống).

Kĩ năng viết của tôi còn tệ hơn cả kĩ năng đọc, mà một phần là do tôi không thường xuyên luyện tập. Tôi có cảm giác là tôi thiếu từ vựng để diễn đạt suy nghĩ của mình, dù là tiếng Anh hay tiếng Việt. Và vì thế, khi gặp những vấn đề về cuộc sống, khi đọc tin tức thời sự hay khi tôi viết sách về công việc giảng dạy của mình tôi thường bỏ dở việc viết giữa chừng cho dù tôi vẫn còn thích.

Việc giao tiếp người khác thông qua nói chuyện với họ về vấn đề của tôi hay lắng nghe người khác nêu vấn đề của họ cũng gặp rắc rối tương tự như việc tôi viết một nội dung nào đó vậy. Vì thế nên tôi cho rằng nếu cải thiện được kĩ năng viết thì kĩ năng nói chuyện lẫn kĩ năng lắng nghe của tôi cũng được nâng cao theo.

Cả 4 kĩ năng này, thật may mắn là chúng tương đồng với nhau, sẽ được cải thiện theo khả năng tư duy của mỗi người. Luyện tập tư duy một cách đúng đắn sẽ giúp chúng ta khắc phục những vấn đề mà tôi đã nêu ở trên đây. Bộ sách Cẩm nang Tư duy chính là cuốn sách hướng dẫn chúng ta luyện tập tư duy như thế.

Mỗi cuốn sách được viết rất ngắn gọn nhưng đó là những “tinh hoa”, chúng ta không chỉ đọc mà còn phải thực hành thường xuyên như việc hít thở không khí vậy. Mặc dù vậy, tôi vẫn thấy có vài điểm chưa được của bộ sách:

  • Nếu chỉ đọc riêng lẻ từng cuốn thì không có vấn đề gì, tuy nhiên khi đọc xong 3 cuốn (Cẩm nang tư duy đọc, Cẩm nang tư duy viết và Cẩm nang tư duy phản biện) thì tôi thấy nội dung trùng lặp khá nhiều. Theo tôi thì nhiều nội dung giữa các cuốn sách trong bộ sách này có mối liên hệ với nhau, do đó, chẳng lạ gì khi ta sẽ gặp lại vấn đề của cuốn sách này ở một cuốn sách khác. Và đó cũng là lí do tôi tổng hợp lại ở trong bài viết này.
  • Bộ sách này được dịch lại nên có nhiều chỗ câu chữ khá lạ. Đôi chỗ thì là do văn phong của những người dịch (thế hệ đi trước), đôi chỗ câu chữ được dịch quá thô. Hi vọng là những lần tái bản tiếp theo thì nhà xuất bản nên chú trọng hơn vấn đề dịch thuật.
Điểm đánh giá: 3,5/5

[Book]Cẩm nang Kinh tế học – Ha-Joon Chang

Thông tin sách

Tên sách: Cẩm nang Kinh tế học

Tác giả: Ha-Joon Chang

Dịch giả: Nguyễn Tuệ Anh

Hiệu đính: Nguyễn Đôn Phước

Số trang: 452

Quyết định xuất bản số 328/QĐ-NXBĐHKTQD, cấp ngày 22/06/2018

Mã ISBN: 978-604-946-450-8


Tóm tắt và đánh giá về nội dung của sách

Nội dung chính của sách gồm 2 phần chính và được chia thành 9 chương nhỏ. Phần đầu của sách giới thiệu cho độc giả cái nhìn tổng quan về Kinh tế học, phần còn lại tập trung vào các khái niệm riêng lẻ và ứng dụng của chúng tương ứng với các vấn đề đã đề cập trước đó.

Phần 1 (bao gồm chương 1-5): Làm quen với Kinh tế học

Chương 1 định hình cho ta khái niệm về Kinh tế học, rằng đó là một môn khoa học nghiên cứu về nền kinh tế, như vậy cuốn sách này định nghĩa kinh tế học theo đối tượng của nó. Tác giả nhấn mạnh rằng có nhiều cách để tiếp cận cách vận hành của một nền kinh tế, do đó để có thể lý giải các hiện tượng kinh tế mà ta thấy thì không nên chỉ sử dụng một lý thuyết duy nhất. Do đó, tốt hơn hết là ta nên tìm hiểu nhiều hơn một trường phái kinh tế học (ở chương 4 thì chúng ta sẽ được tác giả giới thiệu 9 trường phái như thế).

Sang chương 2 thì tác giả lại cho ta thấy lịch sử phát triển của Kinh tế học bắt đầu từ tác phẩm kinh điển của Adam Smith, Của cải của các dân tộc, cho đến năm 2014. Nội dung chương xoay quanh việc thế giới đã thay đổi và khiến cho các lý thuyết giải thích cho nền kinh tế cũng phải thay đổi theo như thế nào. Nói chung, mỗi một lý thuyết kinh tế thì chỉ hợp lý hay phù hợp đối với một khoảng thời gian – không gian nhất định.

Bằng cách tổng quát các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, chương 3 cho thấy vai trò của các lý thuyết kinh tế tương ứng với từng mốc thời gian lịch sử. Và chương 4 sẽ làm rõ hơn thông qua 9 trường phái, theo thứ tự sắp xếp trong sách, gồm:

  • trường phái Cổ điển
  • trường phái Tân cổ điển
  • trường phái Marxist
  • Truyền thống phát triển kinh tế
  • trường phái Áo
  • trường phái Schumpeter
  • trường phái Keynes
  • Kinh tế học Thể chế
  • Kinh tế học hành vi

Việc biết được đặc điểm của từng trường phái kinh tế cũng như hiểu rằng mỗi trường phái có điểm mạnh, điểm yếu riêng và chúng có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau khi tiếp cận các vấn đề phát sinh của nền kinh tế giúp ta biết rằng luôn có giải pháp cho các vấn đề kinh tế (và có thể là tất cả, khi mà các nhà nghiên cứu luôn tìm lời giải cho mọi rắc rối kinh tế, nhưng đó là chuyện tương lai). Công việc còn lại là chúng ta sẽ kết hợp chúng như thế nào để đối phó với những rắc rối đó.

Chương 5 cung cấp một danh sách dài các tác nhân và vai trò của họ đối với sự vận hành của một nền kinh tế. Tuy vậy, mỗi trường phái lại nhìn nhận từng đối tượng ở các khía cạnh khác nhau cho nên không trường phái nào giải thích cặn kẽ thái độ và hành vi của các tác nhân trong thực tế. Một lần nữa, xây dựng một lý thuyết vừa tổng quát hóa vừa đơn giản hóa dựa trên các lý thuyết kinh tế trước đó lại được đặt ra cho các nhà kinh tế.

Phần 2 (bao gồm chương 6-12): Ứng dụng

Ứng dụng của các lý thuyết kinh tế trong thực tế theo từng nhóm:

Chương 6: Sản lượng và thu nhập của một quốc gia, các chỉ số đánh giá hạnh phúc. Hầu hết những gì ta biết về chúng là thông qua các con số thống kê, nhưng bản thân các con số này vốn không hề khách quan. Dù vậy, ta vẫn phải sử dụng chúng nhưng ở mức độ nhận thức tốt hơn khi biết những con số này nói gì cho chúng ta và kể cả không nói những gì.

Chương 7: Hoạt động sản xuất và phát triển môi trường bền vững. Phát triển năng lực sản xuất đã và đang vẫn là vấn đề thiết yếu của nền kinh tế, cho dù có nhiều bằng chứng cho thấy một viễn cảnh thời hậu công nghiệp. Thách thức nằm ở chỗ chúng ta phải giải được bài toán biến đổi khí hậu. Và sử dụng công nghệ xanh là giải pháp cho những vấn đề này. Các nước đang phát triển cần nghiêm túc nhìn nhận và tiến hành quá trình công nghiệp hóa đi kèm với việc phát triển công nghiệp xanh cũng như cải thiện năng lực tổ chức.

Chương 8: Tài chính và ngân hàng. Quyền lực quá mạnh mẽ của các hệ thống tài chính khiến cho chúng ta cần phải có những điều tiết chặt chẽ để ngăn chặn sự phát triển thái quá của chúng. Hệ thống tài chính đã trở nên quá phức tạp, và do đó (theo tôi) cần hạn chế các sản phẩm phái sinh hay thậm chí bỏ bớt hoặc cải tiến để chúng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn.

Chương 9: Bất bình đẳng trong phân bổ và vấn đề nghèo đói. Ta cần nhận thức được rằng bất bình đẳng và nghèo đói là vấn đề chung và gần như không thể giải quyết được (một cách triệt để). Lý do là ở sự khác biệt về khả năng của mỗi cá nhân, và do đó không có biện pháp nào thực sự tối ưu.

Chương 10: Việc làm và thất nghiệp. Chúng ta muốn trang trải cho sinh hoạt hằng ngày, sử dụng các tiện ích hay đơn giản là chỉ thỏa mãn những thú vui nhỏ nhoi, chúng ta cần có tiền (hoặc thứ gì đó tương đương). Để có tiền thì chúng ta cần đi làm. Nếu không tìm được việc, chúng ta sẽ thất nghiệp. Và cho dù phải chịu đựng khổ sở như thế nào, mong muốn được sử dụng thu nhập (để đáp ứng nhu cầu của bản thân) khiến chúng ta phải làm việc. Dù vậy, tôi vẫn hoài nghi rằng liệu việc tăng lương có thực sự bù đắp được tất cả những điều kiện không tốt trong quá trình làm việc của một cá nhân, hay đơn giản đó chỉ là giải pháp tình thế.

Chương 11: Vai trò của nhà nước trong việc quản lí nền kinh tế. Nhà nước có vai trò nhất định trong điều tiết các hoạt động kinh tế, và tôi cho rằng chúng ta cần họ. Vấn đề là ở các chính trị gia. Những thay đổi to lớn đạt được trong kinh tế đều có sự hiện diện của tổ chức to lớn này, nhưng ta cũng phải kiểm soát chính họ.

Chương 12: Góc nhìn quốc tế hay là trao đổi thương mại giữa các quốc gia. Thương mại quốc tế, cán cân thanh toán, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tập đoàn xuyên quốc gia, nhập cư và kiều hối là những vấn đề được thảo luận ở chương cuối cùng này. Bản thân của mỗi quốc gia cần hiểu được mức độ cởi mở của nền kinh tế và các hệ lụy của của tất cả các vấn đề trên khi tiến hành giao thương với các quốc gia khác. Không có mẫu số chung cho tất cả.


Đánh giá chung

Theo lời tác giả thì sách dành cho cả người không chuyên về kinh tế nhưng cá nhân tôi cho rằng nếu muốn đọc và hiểu toàn bộ nội dung cuốn sách một cách tương đối thì bạn và biết (thậm chí hiểu) nhiều khái niệm được đề cập trong sách để liên kết các vấn đề lại với nhau. Bên cạnh đó, tôi thấy có vẻ tác giả không ưa thích các nhà kinh tế theo trường phái Marxist thì phải (không cần phải “nướng” những lời phát ngôn của họ lên đâu), cái này là cảm nhận riêng của tôi. Có thể là do người dịch, hoặc cũng có thể là do tác giả (tôi cho rằng cái thứ hai thì có khả năng cao hơn). Gói gọn lại từng ấy khái niệm về kinh tế học trong hơn 400 trang sách là điều không dễ, nhưng tác giả đã cố gắng làm được điều tuyệt vời này. Tóm lại, tôi đánh giá sách có thể dùng để tham khảo, khơi gợi niềm vui thích trong việc tìm hiểu Kinh tế học (với những người quan tâm) ở một mức độ tương đối.

Điểm đánh giá: 3/5

[08/04/2018]Đánh giá hạnh phúc?

Bài viết dẫn đọc: Chỉ số hạnh phúc thế giới 2012 – 2017

Chú ý: Bài viết trên chỉ là thông tin tôi dẫn để mọi người tham khảo, không phải nội dung tôi sử dụng/tham khảo để viết bài này.


Vấn đề xuất phát

Tại sao chúng ta lại đánh giá hạnh phúc của người khác thay cho họ?

Liệu việc biết thêm thông tin về thu nhập của hàng xóm khiến ta đánh giá thấp cảm giác thỏa mãn của bản thân so với trước đó có là điều đúng đắn hay không?

Việc chúng ta “thích nghi” với hoàn cảnh hiện tại và “chấp nhận” hay “an phận” có phải là điều không tốt?


Ý kiến cá nhân

Tôi không nghĩ bất cứ ai có quyền đánh giá hay cảm nhận hạnh phúc thay cho chính chúng ta. Cảm nhận của mỗi người là riêng biệt bởi vì không ai giống ai cả. Mỗi người có một hệ thống niềm tin, quan điểm về giá trị cũng như thái độ đạo đức khác nhau mà nếu đem tất cả đặt lên một bàn cân thì thật khập khiễng. Nó giống như việc ông Tây nói ông Việt Nam rằng ăn thịt chó là vô nhân đạo vậy, bởi vì chuyện đó không có gì là ghê gớm ở Việt Nam cả (dĩ nhiên, ngày càng có nhiều người ít ăn thịt chó và họ thường phê phán những người thích ăn thịt chó, nhưng vào những năm trước đây (và nếu cần thì có thể tìm hiểu thêm về lịch sử Việt Nam cũng được) thì việc ăn thịt chó khá phổ biến và có khi còn nhiều hơn cả ăn thịt bò ấy chứ). Môi trường sống khác nhau khiến chúng ta có những quan niệm về hạnh phúc khác nhau, bạn có hài lòng giống như tôi hay không? Tôi nghĩ là không.

Biết thêm thông tin giúp chúng ta có cái nhìn tốt hơn cũng như đánh giá nhiều mặt của một vấn đề hơn. Về mặt này thì tôi đồng ý. Vấn đề ở đây là, cho dù chúng ta được cung cấp thông tin tốt đến thế nào, thì việc đánh giá của mỗi người cũng không nên chịu ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Bạn được cung cấp thông tin thu nhập của những người dân ở các nước láng giềng và một người nói cho bạn rằng thu nhập phản ánh được chất lượng cuộc sống của công dân ở một quốc gia – thu nhập càng cao thì chất lượng cuộc sống càng tốt. Khi bạn nhìn vào bảng kê khai thuế Thu nhập cá nhân của mình, có lẽ bạn sẽ có chút khó chịu khi so sánh với thu nhập của một anh bạn nào đó bên Thái Lan. Ồ, và bạn cảm thấy một chút hụt hẫng, tức giận vì chất lượng cuộc sống của mình đang “quá thấp” so với họ. Mà gượm đã, trước đây vài giây bạn vẫn cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình cơ mà!? Thông tin trên đã khiến bạn đánh giá lại cảm giác của mình dựa trên cuộc sống của người khác.  Tôi không có ý nói rằng ta cứ tự ám thị rằng mình là người hạnh phúc thì mình sẽ cảm thấy hạnh phúc, rằng nhà cầm quyền nên làm công tác tư tưởng để những người dân khốn khổ của họ cảm thấy hài lòng với những gì đang có và khiến họ vỡ mộng là một cái tát trời giáng phi nhân tính. Ý của tôi là, chỉ những thông tin riêng lẻ như trên thì có đủ để đánh giá toàn diện về chất lượng cuộc sống của một người hay không. Tôi sẽ hoài nghi về một chỉ số, thậm chí là một hệ thống các chỉ số phức tạp hơn, có thể đo lường được điều đó. Một người Nhật chi tiêu khoảng 40,000 JPY cho ăn uống mỗi tháng (tương đương 8.38 triệu VNĐ) có cảm thấy tốt hơn so với tôi, với mức chi tiêu cho ăn uống chỉ khoảng 3 triệu VNĐ. Theo tôi được biết thì một trái chuối bình thường ở Nhật có giá khoảng 20,000 VNĐ và giá một bữa ăn trưa của một nhân viên văn phòng (theo khảo sát của Nikkan Spa, năm 2016) là khoảng 105,000 VNĐ, trong khi đó thì tôi tốn khoảng 25,000 VNĐ để có được một bữa trưa văn phòng có chuối dùng làm tráng miệng. Và tôi cũng là một nhân viên văn phòng bình thường. Nhưng tôi biết rằng anh bạn người Nhật kia sẽ làm việc năng suất hơn tôi nhiều, và áp lực công việc cũng cao hơn tôi nữa cho nên theo tôi (võ đoán) thì có lẽ tôi sẽ “hài lòng” với công việc hiện tại hơn. Tóm lại thì để đưa ra một đánh giá nào đó, ta nên có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề mà ta đối mặt bằng cách thu thập thêm thông tin, tham khảo ý kiến của những người biết nhiều hơn về vấn đề đó và nhất là có thái độ hoài nghi về những gì ta thu thập được (bạn cũng nên tìm hiểu những thông tin mà tôi nêu ra ở trên để thể hiện thái độ hoài nghi của bản thân đi, đừng tin vào tôi!).

Vấn đề cuối cùng mà tôi đề cập đến đến từ việc tôi chợt nghĩ đến một cuốn sách viết về các hành vi phi lý trí của cá nhân khi đối diện với các vấn đề kinh tế. Một lần nữa, “an phận” hay “chấp nhận”, theo tôi, không có nghĩa là chấp nhận hiện trạng và không muốn thay đổi, thậm chí là chống lại sự thay đổi để tốt hơn (tôi đã để những cụm từ này trong ngoặc kép nhằm nhấn mạnh rằng nó không có nghĩa mà mọi người thường nghĩ, lý do là tôi không tìm được từ nào để diễn tả suy nghĩ của mình lúc đó). Với mức thu nhập hiện tại thì tôi cảm thấy “chấp nhận” được, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ duy trì như vậy cho đến mãi sau này, không cần cố gắng thêm và chỉ việc hưởng thụ tất cả những tiện ích đang có. Tôi chấp nhận điều này là vì mức lương hiện tại giúp tôi trang trải tốt các chi phí sinh hoạt hàng ngày, tôi vẫn có các khoản mục cho bảo hiểm, giao lưu với bạn bè, mua một vài quyển sách để đọc lúc rảnh rỗi hoặc lên kế hoạch để mua một chiếc laptop mới vào cuối năm. Có thể bạn nghĩ rằng thu nhập của tôi cao nên tôi mới nói như vậy, nhưng mà thực sự thì thu nhập của tôi cũng chỉ vừa đến mức đóng thuế Thu nhập cá nhân thôi (tôi sẽ vui mừng biết bao nếu có thể đóng nhiều hơn thế :(, buồn thay!). Vậy tại sao tôi lại bằng lòng với những gì đang có? Tôi không chắc lắm, nhưng có lẽ nó cũng phản ánh khá tốt những đóng góp của tôi cho xã hội. Những đồng nghiệp của tôi có mức lương ấn tượng hơn nhiều, bởi vì họ làm nhiều hơn và “quan hệ” tốt hơn tôi. Tôi không có ý nói xấu họ đâu, thực tế thì xã hội này vận hành dựa trên rất nhiều mối quan hệ phức tạp như vậy. Cho dù họ đang “nhận” được nhiều hơn những gì họ đóng góp “cho” xã hội thì cũng chẳng liên quan gì đến cảm nhận của tôi lắm, vì những gì tôi làm được cũng chả thay đổi nhiều. Vậy thì tại sao tôi phải bớt “chấp nhận” nhỉ!? Tôi vẫn được làm những việc mà mình ưa thích, đọc sách và suy ngẫm trong những khoảng thời gian rảnh rỗi, trải nghiệm những chuyến đi chơi xa và hơn nữa tôi vẫn có kế hoạch tài chính cho bản thân và gia đình sau này. Tôi không “an phận” mà là tôi biết bằng lòng với những gì đang có, hưởng thụ từng khoảnh khắc vào lúc này và cố gắng cho tương lai. Tôi không nhìn vào người khác để đánh giá mình, việc đó không cần thiết mặc dù tôi có thể tham khảo nhiều điều tự họ, mà tôi sẽ so sánh bản thân mình ngày hôm nay với ngày hôm qua. Theo tôi thì đi nhanh cũng tốt đấy, nhưng chỉ cần tiến lên được và đúng hướng cũng đủ tốt rồi.

Hi vọng là mọi người đều hạnh phúc theo cách của riêng mình, ha ha!