[05/28/2020]Lại việc ăn thịt chó (2).

Có người cho rằng ở Việt Nam đa phần thịt chó bán trong quán đều là chó bị ăn trộm, cho nên cần cấm ăn thịt chó để hạn chế việc trộm chó.

Ý kiến của tôi:

Đầu tiên, tôi không rõ “đa phần” là bao nhiêu, nhưng tôi cho rằng trong số 5 triệu con chó được tiêu thụ ở Việt Nam (số liệu ước tính của Liên minh bảo vệ chó Châu Á, ACPA) thì phần đóng góp của các “cẩu tặc” là không đáng kể. Làm một tính toán nhỏ sau, giả sử mỗi ngày các “cẩu tặc” bắt trộm được 100 con chó/tỉnh thì sau một năm (365 ngày) số lượng chó bị trộm sẽ là 100*365*63 = 2,299,500 con chó. Lượng chó này vẫn chưa chiếm đến 50% lượng chó tiêu thụ ước tính nên không thể gọi là “đa phần”. Thêm vào đó, mỗi ngày mà mỗi tỉnh bị trộm tới 100 con chó (và duy trì đều đặn trong 365 ngày) thì vấn nạn trộm chó thực sự là đáng báo động.

Thứ hai, Việt Nam hiện đã có các trang trại chó thịt – nuôi chó lấy thịt theo hình thức công nghiệp – giống như nuôi heo, bò, gà, vịt vậy. Mặc dù quy mô của những trang trại này chưa lớn nhưng nó cũng cho ta thấy rằng đã có những người suy nghĩ nghiêm túc về việc chăn nuôi chó lấy thịt để cung cấp cho thị trường. Các trang trại chó thịt cũng là một biện pháp để hạn chế việc trộm chó. Vì khi quy mô tăng lên, kỹ thuật chăn nuôi được cải tiến sẽ giúp hạ giá thành thịt chó thương phẩm và khiến cho việc trộm chó bán thịt kém hấp dẫn hơn (và rủi ro cao hơn).

Thứ ba, việc trộm chó và việc ăn thịt chó là 2 vấn đề khác nhau, không nên đánh lận trong lập luận như vậy. Giống như việc trộm gà và ăn thịt gà vậy. Chúng ta lên án việc trộm gà (mà đã là ăn trộm thì trộm cái gì cũng đáng lên án cả) nhưng chúng ta đâu phản đối ăn thịt gà!

Thứ tư, việc trộm chó là do quản lý chưa tốt, do đó để hạn chế việc trộm chó thì cần cải thiện việc quản lý vật nuôi. Đối tượng chính ở đây là hành động trộm chó, không phải là việc ăn thịt chó. Tư duy quản lý không được thì cấm là tiêu cực và sai đối tượng. Ai đó có nói rằng tạm thời cấm ăn thịt chó để hạn chế việc trộm chó, ý kiến này…cũng hay nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế. Phải xử lý được căn nguyên của vấn đề thì mới là giải pháp bền vững.

Thứ năm, việc ngược đãi chó khi nuôi hay trước khi chế biến thì chung quy lại cũng giống với hành động trộm chó, ta không nên đánh đồng với việc ăn thịt chó. Nếu người nuôi ngược đãi chó nuôi lấy thịt, hãy xử phạt họ bằng luật. Nếu người chế biến thịt chó đánh đập chó vì họ cho rằng như vậy thịt chó sẽ ngon hơn, hãy xử phạt họ bằng luật.

Và cuối cùng, một số bạn sẽ lập luận rằng chó thân thiết với chúng ta, là bạn của chúng ta và chúng trung thành với con người…Điều đó không sai. Nhưng đó là với những con chó mà chúng ta nuôi. Còn nếu đó là những chú chó được nuôi theo kiểu công nghiệp để lấy thịt thì chúng cũng giống như những con heo, những con gà được nuôi để bạn có được miếng sườn non xào chua ngọt hay cái đùi gà rán thơm phức trong phần ăn của bạn vậy.

Đừng phân biệt đối xử giữa các loài động vật.

Đừng đối xử bạo tàn đối với các loài động vật.

[SoL]Về việc sử dụng từ Hán-Việt trong tiếng Việt.

[SoL]Về việc sử dụng từ Hán-Việt trong tiếng Việt.

Theo nhiều nhà nghiên cứu về ngôn ngữ thì có đến 60%-70% những từ gốc Hán trong tiếng Việt. Theo thời gian thì nhiều từ đã bị sử dụng với nghĩa khác đi ít nhiều so với nghĩa ban đầu. Thậm chí, nhiều từ bị sử dụng nhầm lẫn với những từ thuần Việt dẫn đến việc hiểu sai. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì e là chừng một thời gian nữa thôi thì những từ sai này sẽ được sử dụng như những từ bình thường khác. Bởi vậy, việc dạy từ Hán-Việt là thực sự cần thiết nhằm gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt cũng như giúp những thế hệ sau có được hiểu biết một cách đúng đắn hơn về tiếng Việt.

Tuy vậy, dạy từ Hán-Việt không nhất thiết phải dạy mặt chữ Hán. Rõ ràng là nếu biết được mặt chữ Hán và cách chiết tự sẽ giúp cho người học có kiến thức sâu hơn về việc sử dụng từ Hán-Việt. Tuy nhiên, việc đó thực sự quá tốn công sức và thời gian. Chương trình học của thế hệ học sinh bây giờ vốn đã quá nặng nên phần nào không thiết thì nên bớt đi. Bên cạnh đó, chữ Quốc ngữ của chúng ta sử dụng kí tự Latin để thể hiện trên văn bản (không giống như Hàn Quốc, Nhật Bản vẫn sử dụng kí tự tượng hình để thể hiện chữ Hán được vay mượn trong ngôn ngữ của họ) nên cũng chỉ cần hiểu nghĩa để dùng là được rồi.

Bắt đầu dạy từ Hán-Việt thì ta nên dạy từng tự (chữ) trước, sau đó mới hướng dẫn cách ghép thành từ.

  • Dạy chữ: nên sử dụng những từ thuần Việt để giải thích nghĩa và kèm theo ví dụ minh họa. Ví dụ, chữ quy có 4 nghĩa[1]. 1) trở về: quy tiên, quy hàng, hồi quy…; 2) phép tắc, hoạch định: nội quy, quy chế, quy hoạch; 3) theo: quy y, tam quy; 4) con rùa: thần Kim Quy.
  • Cách ghép các chữ thành từ: thông thường thì từ Hán-Việt có trật tự từ ngược lại với từ thuần Việt. Ví dụ, từ viên ngọc màu đỏ là từ thuần Việt có trật tự từ là ‘danh từ + tính từ (bổ nghĩa cho danh từ)’, chuyển sang từ Hán-Việt thì sẽ là hồng ngọc với trật tự từ là ‘tính từ (bổ nghĩa cho danh từ) + danh từ’.

Tiếp theo đó, ta nên dạy những từ Hán-Việt quen thuộc, hay được sử dụng hàng ngày. Và để giúp người học có hứng thú hơn với việc học từ Hán-Việt thì cố gắng liên hệ nghĩa đen với nghĩa bóng cũng như quá trình hình thành ý nghĩa của chúng. Ví dụ, từ tục huyền (gồm chữ tục nghĩa là nối lại và huyền nghĩa là dây đàn) có nghĩa đen là ‘nối lại dây đàn’. Khi người đàn ông mất vợ thì người ta liên tưởng đến hình ảnh dây đàn bị đứt, cho nên khi người đó đi lấy vợ khác thì giống như dây đàn được nối lại. Từ đó, từ tục huyền có thêm nghĩa bóng là ‘người đàn ông lấy vợ khác sau khi vợ mất’[2]. Nếu chỉ dạy nghĩa đen và nghĩa bóng của một từ Hán-Việt thì người học sẽ khó nhớ hơn, nhưng bằng cách gợi hình ảnh liên tưởng trong quá trình hình thành ý nghĩa của từ đó thì người học sẽ cảm thấy hứng khởi hơn, nhớ nghĩa lâu hơn.

Tuy nhiên, nhiều chữ và từ Hán-Việt sau một thời gian bị sử dụng sai đã trở thành thông thường. Ta cũng nên chỉ ra những điều này trong quá trình dạy.

  • Với chữ Hán-Việt thì thường bị nhầm lẫn với những từ thuần Việt do đồng âm hoặc phát âm gần giống. Ví dụ, chữ yếu là một từ Hán-Việt và cũng là một từ thuần Việt. Chữ Hán-Việt yếu nghĩa là ‘quan trọng’, nên ta có những từ như yếu nhân (người quan trọng), cốt yếu (quan trọng mang tính cốt lỗi), yếu điểm (điểm quan trọng)… Trong khi đó, chữ thuần Việt yếu lại mang thể hiện sự yếu đuối, yếu ớt.
  • Với từ Hán-Việt thì thường bị sử dụng sai trật tự từ. Ví dụ, lẽ ra phải nói Singapore là một đảo quốc – quốc gia ở trên đảo – thì giờ đây chúng ta hay nói là quốc đảo Singapore. Những từ như thế này thì sau một thời gian sử dụng lại trở nên phổ biến đến mức trở thành bình thường và mọi người cảm thấy là đúng
  • Trong nhiều trường hợp lại có những từ ghép “nửa thuần Việt nửa Hán-Việt” dẫn đến những cách nói, cách viết “lạ”, “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Những trường hợp như thế này cần phê phán và nên tránh.
  • Thêm vào đó, nhiều từ Hán-Việt có nghĩa đã bị thay đổi so với nghĩa ban đầu, dẫn đến cách sử dụng cũng khác biệt. Ví dụ, từ quan ngại (gồm từ quan có nghĩa là cửa ải và từ ngại có nghĩa là hạn chế, vướng mắc) vốn có nghĩa ban đầu là ‘ngăn trở’ thì bây giờ thường được các nhân viên ngoại giao sử dụng để thể hiện ‘sự quan tâm có phần lo lắng, không hài lòng’ (có lẽ là do ghép của từ quan tâmái ngại chăng (?)).

[1] Xem Nguyễn Đức Dân (2018, tr. 284). Từ câu sai đến câu hay, NXB Trẻ.

[2] Xem Nguyễn Đức Dân (2018, tr. 284). Từ câu sai đến câu hay, NXB Trẻ.

[SoL]Nước chảy đá mòn…

Tôi đã có dự định viết những câu chuyện ngắn về ngôn ngữ như thế này khá lâu nhưng đến giờ mới thực hiện được. Tình hình dịch bệnh (Covid-19) đầu năm nay có nhiều biến động khiến cho công việc giảng dạy ở trường bị hoãn, cho nên các hoạt động khác được tăng cường để đảm bảo kết hoạch của năm.

Ban đầu thì tôi chỉ định viết một bài kiểu như nhật kí hàng ngày thôi. Thế nhưng sau một hồi suy đi nghĩ lại thì tôi quyết định gom tất cả lại vào một chủ đề riêng cho tiện theo dõi sau này! Những bài viết này cũng chỉ là chia sẻ ý kiến cá nhân, và tôi cũng không hề có ý định “dạy” ai cả :). Bởi vậy, nếu bạn vô tình đọc những bài viết này thì hãy cứ xem như một mẩu độc thoại vậy. Và nếu cảm thấy hứng thú thì xin để lại vài dòng chia sẻ.

Hai mẩu chuyện sau đây xuất phát từ một bữa nhậu với các đồng nghiệp. Khi hơi men đã hơi ngấm thì chúng ta có xu hướng chia sẻ nhiều chuyện hơn, đôi khi cả những chuyện chẳng liên quan gì với nhau cả. Và dưới đây là hai câu chuyện bên lề như thế:

Chuyện thứ nhất: Về câu tục ngữ “Nước chảy đá mòn”. Ở đây tôi xin nói về loại từ của từ “mòn” . Theo ý kiến cá nhân thì nó phải là động từ cho phù hợp với bối cảnh của câu tục ngữ. “Nước chảy đá mòn” mô tả một hiện tượng, đó là nước chảy làm mòn đá hay nước chảy làm đá bị mòn. Bên cạnh đó, ca dao tục ngữ Việt Nam thường sử dụng các cặp hình ảnh liên tưởng đối xứng với nhau. Do đó ở câu trên thì “nước chảy” sẽ đối với “đá mòn”: nước ứng với đá, đều là danh từ; “chảy” ứng với “mòn”, thì nó nên là động từ (thể bị động hay chủ động cũng được). Nếu “mòn” ở đây là tính từ thì nó sẽ khiến câu tục ngữ có phần tối nghĩa và mất tính cân xứng, điều mà tôi không nghĩ là sau hàng ngàn năm chắt lọc mà ông cha ta đã để lại như thế.

Chuyện thứ hai: Về câu “Tôi xin lỗi” trong tiếng Việt và câu “I am sorry” trong tiếng Anh. Theo tôi thì nghĩa của hai câu này chưa thực sự tương đương với nhau. Nói thế là do loại từ của hai câu này không hoàn toàn giống nhau. Câu “I am sorry” nên được dịch thành “Tôi rất tiếc [về điều gì đó]”. Nó thể hiện sự thông cảm hay có phần nhún nhường của một người khi nghe một tin không hay hoặc về một sự việc đáng tiếc nào đó. Chắc không ít lần các bạn coi phim Mỹ hay Anh và gặp tình huống là một nhân vật thông báo cho một nhân vật khác về chuyện buồn của mình, người nhận thông báo đó thường tỏ vẻ buồn kèm theo câu “I am sorry [about that]” chẳng hạn. Hoặc chẳng hạn bạn rơi vào một hoàn cảnh mà một hành động của bạn gián tiếp gây hại (hoặc thậm chí bạn chỉ ở ngay lúc đó và chứng kiến) thì bạn cũng có thể sử dụng câu “I am sorry about that” với nghĩa tương đương trong tiếng Việt là “Tôi lấy làm tiếc về việc đó”. Trong những tình huống ở trên đây thì từ “sorry” sẽ đóng vai trò là tính từ. Trong khi đó, câu “Tôi xin lỗi” trong tiếng Việt nên được dịch sang tiếng Anh là “I apologize”. Vì người Việt nói xin lỗi là thể hiện hành động hối lỗi về hành động mà bản thân gây ra cho người khác, do đó nó thực sự là câu đã rút gọn phần vị ngữ. Ví dụ, khi bạn vô tình làm đổ nước vào người khác thì bạn sẽ nói một cách đầy đủ là “Tôi xin lỗi bạn”. Do thói quen nên chúng ta đã lược bỏ phần vị ngữ phía sau nên chỉ còn là “Tôi xin lỗi”. Như vậy, chữ “xin lỗi” ở đây thực chất là động từ. Tóm lại, từ “sorry” và từ “xin lỗi” không cùng loại từ cho nên câu “Tôi xin lỗi” và câu “I am sorry” không hoàn toàn tương đương.

P/S: khi giải thích về động từ xin lỗi trong tiếng Việt tôi đã hiểu một phần lí do vì sao người Việt không có thói quen nói xin lỗi như những người phương Tây. Đó là bởi vì khi nói xin lỗi nghĩa là ta sẽ phải nhận đó là lỗi của mình, là chính mình gây ra việc đó.

[08/02/2020]Về đại dịch Corona

Đầu năm mới mà viết về đại dịch thì âu cũng hơi kì kì (!), nhưng phần vì tôi muốn nhắc nhở bản thân một số điều nếu trong tương lai lại xảy ra những tình huống tương tự, phần vì muốn ghi lại những cái được và không được của xã hội lúc này.

– Thứ nhất, Novel coronavirus 2019 (viết tắt 2019-nCoV) là một chủng mới thuộc họ virus corona. Cùng trong chủng này còn có virus gây ra Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS). Tên gọi của nó xuất phát từ hình dáng gợi nhớ tới hình ảnh một chiếc vương miện của nó và thuật ngữ y học theo tiếng Latin thì “corona” (tiếng Anh là “crown”) nghĩa là “vương miện”.

– Thứ hai, dịch Corona được cho là xuất phát từ một khu chợ chuyên buôn bán hải sản và cả thịt của các động vật hoang dã ở thành phố Vũ Hán (Hồ Bắc, Trung Quốc). Nói lại chuyện cũ một chút thì dịch SARS cũng xuất phát từ các chợ buôn bán động vật hoang dã, mà cụ thể là loài cây hương, tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Và thêm nữa thì chủng virus gây bệnh MERS cũng có nguồn gốc từ lạc đà ở Trung Đông. Đa phần các chủng virus trong họ corona chỉ gây bệnh cho động vật nhưng điều đó không đảm bảo rằng chúng ta miễn nhiễm trước chúng, những ví dụ trên đây là minh chứng rõ ràng nhất. Vì vậy, hãy hạn chế thói quen ăn thịt động vật hoang dã, và nếu cần thiết thì phải đảm bảo an toàn vệ sinh dịch tễ đối với những khu chợ như thế.

– Thứ ba, từ tên viết tắt của chủng virus này ta biết được nó được phát hiện từ năm 2019, vậy thì cớ sao phải đến 2020 thì thế giới mới lên tiếng cảnh báo? Điều này xuất phát từ sự chậm trễ vốn đã trở thành “lỗi hệ thống” ở Trung Quốc. Các quan chức địa phương của tỉnh Hồ Bắc đã xem nhẹ cũng như phớt lờ các cảnh báo từ các bác sĩ, họ cũng không phối hợp chặt chẽ với nhau để nhận diện được qui mô tiềm tàng. Hơn thế nữa, họ không dám báo cáo những thông tin như thế này lên cấp cao hơn để nhận được sự hỗ trợ cần thiết mà lại cố tình che đậy thông tin, chính điều này dẫn đến sự bùng phát dịch trong nước lẫn ngoài nước. Như vậy, thông tin ban đầu thực sự rất cần thiết để phòng tránh bất cứ bệnh dịch nào trong thế giới hội nhập hiện nay. Nói đến đây thì tôi cũng rất buồn khi đọc được tin bác sĩ Lý Văn Lượng, người đã cố gắng cảnh báo cho công chúng biết về dịch bệnh mới cũng như dấu hiệu lây nhiễm từ người sang người của nó, đã qua đời. Ông xứng đáng được gọi là Anh hùng trong cuộc chiến chống dịch bệnh Corona!

– Thứ tư, mặc dù ở gần Trung Quốc, lại có nhiều hoạt động sản xuất – thương mại – du lịch – xuất nhập khẩu với các đối tác ở Trung Quốc, song cho đến giờ thì Việt Nam đã có nhiều điều đáng khích lệ trong việc ngăn chặn đại dịch Corona trên toàn bộ lãnh thổ. Hầu hết các ca nhiễm bệnh đều xuất phát từ các cá nhân có thời gian di trú bên Trung Quốc. Hơn nữa, trong số những người nhiễm bệnh được cách li ở các bệnh việt thì một số người đã khỏi bệnh và khỏe mạnh bình thường. Nên nhớ rằng trước đây Việt Nam cũng là quốc gia nằm trong tuyến đầu phòng chống dịch SARS và cũng thành công. Hãy tin tưởng vào khả năng của đội ngũ y tế của Việt Nam.

– Thứ năm là về vấn đề truyền thông trong thời gian dịch bệnh đang diễn ra. Khi mà mạng xã hội ngày càng phát triển thì mọi thông tin đều có thể được lan truyền đi rất nhanh. Điều này có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, tùy thuộc vào việc thông tin được lan truyền là gì. Về mặt tích cực, những thông tin hữu ích được chia sẻ kịp thời sẽ giúp mọi người hiểu biết tốt hơn về dịch bệnh, cách phòng chống, những biện pháp bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng và góp phần hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Tuy vậy, nếu tác động của mặt tích cực là 1 thì ảnh hưởng của mặt tiêu cực có thể lên đến 3. Lí do là vì những tin tức tích cực thường khá “đơn điệu”, “nhàm chán” trong khi bản chất của con người vốn “tò mò”, ưa các yếu tố “giật gân” đến nỗi “quá đà”. Trong những ngày qua tôi đã đọc, nghe và thấy rất nhiều những câu chuyện như thế. Những thông tin đại loại như “hơn 30 người chết do Corona ở BV Chợ Rẫy”, “Bộ Y Tế đang ém thông tin về tình hình dịch bệnh để tránh làm hoang mang xã hội”, “Việt Nam đã chế tạo thành công vaccine chữa Corona” hay những “thông điệp” đầy tính kích động như lời kêu gọi “cho học sinh đi học trở lại vì không có thời gian trông con” hay “đóng cửa biên giới với Trung Quốc”, “ăn trứng luộc để chống Corona”, vân vân và mây mây (!!!). Những thông tin như trên thường đi kèm một thuyết âm mưu đậm chất “bí mật” do “người trong ngành” cho biết, hay có thể là một câu chuyện được nghe kể lại từ “người thân” ở đâu đó mà ai-cũng-chả-biết-đó-là-ai. Thật là không biết đường nào mà lần! Thế nhưng nhiều người vẫn chia sẻ và tích cực lan truyền những thông tin như thế này cho mọi người xung quanh – những người ít biết thông tin hơn. Tôi nghĩ rằng trong bối cảnh này thì mọi người nên cập nhật thông tin từ các nguồn chính thống thường xuyên hơn là từ những nguồn chia sẻ không rõ nguồn gốc như thế. Nếu không tin những thông tin chính thống ở Việt Nam (mà nhiều người e ngại rằng thông tin đã bị bóp méo) thì hãy lên website của các tổ chức y tế thế giới như WHO để theo dõi hàng ngày. Bên cạnh đó, mọi người nên cảnh giác trước các thông tin định hướng không rõ nguồn gốc, không nên chia sẻ những thông tin tai hại này vì nó chỉ khiến tình hình thêm căng thẳng. Lo lắng thái quá cũng khiến bản thân bị suy nhược rồi đổ bệnh, có khi còn nguy hiểm hơn cả dịch bệnh thực tế.

– Thứ sáu, hãy nói về mối tương quan giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhiều người cứ đơn giản cho rằng đóng cửa biên giới, cấm các chuyến bay đến Trung Quốc hay từ Trung Quốc hay “trả” khách du lịch Trung Quốc về là có thể ngăn chặn dịch bệnh. Biện pháp “bế quan tỏa cảng” kiểu này có thể hạn chế một phần nào đó dịch bệnh nhưng tác động của những mặt tiêu cực còn lớn hơn nhiều, và không phải ai cũng biết và hiểu những điều đó. Hầu hết các hoạt động liên quan đến sản xuất – thương mại – dịch vụ của Việt Nam đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ Trung Quốc. Đa phần những người đòi đóng cửa biên giới với Trung Quốc không biết rằng nếu đóng cửa biên giới thì Việt Nam mới là bên chịu thiệt hại nhiều hơn. Hơn 70-80% lượng nông sản, hàng hóa, nguyên vật liệu của ta sẽ bị ứ đọng ở các cửa khẩu. Ban đầu những thiệt hại đó sẽ trực tiếp dồn lên vai những người nông dân và công nhân, tiếp đó nó sẽ dần lan đến các “mắt xích” khác trong chuỗi cung ứng này. Tiếp theo đó, những thiệt hại này sẽ “lan tỏa” ra toàn xã hội như hiệu ứng Domino. Tất cả chúng ta đều phải gánh chịu, chỉ có điều là ai sớm ai muộn mà thôi.

Nói đơn giản thì nếu người nông dân không bán được nông sản, họ sẽ không có vốn để tái đầu tư. Trong trường hợp may mắn thì họ vẫn có thể duy trì một phần hoạt động trồng trọt của mình, nhưng chắc chắn họ sẽ tiêu dùng ít đi. Hãy lấy mặt hàng phân bón làm ví dụ, khi người nông dân không có nhiều tiền thì họ sẽ mua ít phân bón hơn. Do nhu cầu giảm, các nhà sản xuất buộc phải cắt giảm sản lượng, đẩy giá thành lên cao, bên cạnh đó doanh thu của họ cũng bị sụt giảm kéo theo. Những hoạt động liên quan như cung ứng nguyên vật liệu làm phân bón, vận tải, lao động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc cung cấp phân bón bị ảnh hưởng theo chiều thu hẹp qui mô sẽ dẫn đến thu nhập bình quân đầu người bị giảm. Khi thu nhập của mỗi cá nhân bị giảm thì họ sẽ chỉ đảm bảo các chi tiêu thiết yếu ở mức thực sự cần thiết. Điều này lại một lần nữa tác động đến các mặt hàng khác. Giả sử thu nhập của bạn đang là 10 triệu đồng mỗi tháng và bạn dành ra khoảng 200 ngàn để đi xem phim rạp vào cuối mỗi tuần chẳng hạn. Nhưng bây giờ, nếu thu nhập của bạn giảm đi còn khoảng 7 triệu đồng mỗi tháng, bạn sẽ phải giảm chi tiêu cho hoạt động giải trí này , ví dụ chỉ còn 100 ngàn chẳng hạn. Doanh thu của rạp chiếu phim giảm thì những nhân viên của rạp phim cũng phải chịu ảnh hưởng, hoặc bị giảm lương hoặc sẽ “được” thôi việc. Nếu để nói về những tác động như thế này thì có thể kể hết cả một ngày mà vẫn không hết. Tựu chung lại, chúng ta đang sống trong một thế giới mà các hoạt động của chúng ta phụ thuộc lẫn nhau rất nhiều. Do đó, hãy cẩn thận suy xét trước khi đưa ra một quyết định hay phán xét. Và nếu không đủ tầm để xem xét, hãy theo dõi một cách cẩn thận và có chọn lọc những chính sách của những cơ quan có thẩm quyền. Tôi không nói những điều đó là đúng hay hợp lí, nhưng ít nhất hãy để cho bộ não của chúng ta thu thập thông tin một cách đầy đủ, suy nghĩ và tư duy trước khi đưa ra phán xét.

[Book]Trực giác siêu linh – Osho

Thông tin sách

Tên sách: Trực giác siêu linh

Tác giả: Osho

Dịch giả: Hồ Minh Trí

Số trang: 271

Quyết định xuất bản số 0808/QĐ-NXBHĐ cấp ngày 28/09/2017


Những cảm nhận sau khi đọc

Với những cuốn sách thuộc thể loại triết-học-siêu-linh thế này (cái tên này do tôi tự đặt) thì rất khó để tóm tắt lại. Mà dẫu có được đi chăng nữa cũng phỏng có ích gì! Theo tôi thì tốt nhất là tự đọc và tự cảm nhận là hơn cả.

Những gì tôi ghi ra ở đây là cảm nhận của bản thân về những nội dung được Osho trao đổi trong sách, và kèm theo đó là những suy nghĩ của cá nhân tôi. Tôi không hề muốn áp đặt bất cứ ý kiến nào, mọi sự diễn giải được nêu ra nhằm bày tỏ hơn là để tranh luận.

Theo tôi hiểu, mọi suy nghĩ và hành động của một người có thể được giải thích bởi ba phần hay ba khía cạnh sau đây:

  • Thứ nhất, là bản năng. Bản năng thuộc về đời sống vật chất, là của nhục thể của mỗi người. Bản năng là tự động, chúng tự vận hành mà không cần sự suy nghĩ của ta. Có thể lấy ví dụ như sự hít thở, như trái tim đập để bơm máu đi khắp cơ thể ta vậy. Ta (gần như) không thể điều khiển những hoạt động này, và cũng không nên như thế. Tưởng tượng rằng nếu bằng cách nào đó mà ta có thể kiểm soát những hoạt động này thì có lẽ ta sẽ chết ngay lập tức. Bởi vì lúc đó ta sẽ phải suy nghĩ hàng tỉ tỉ thứ để cơ thể này có thể tồn tại, và rồi bộ não của chúng ta sẽ bị quá tải đến mức tê liệt. Những thứ thuộc về bản năng thì hãy để cơ thể của ta tự điều chỉnh. Đói thì ăn, khát thì uống, vui thì cười, buồn thì khóc…mọi thứ thuận theo tự nhiên là tốt nhất.

Không! Tôi không nói đến sự ham muốn vô độ của con người. Đừng đổ lỗi những thói tham lam, đam mê quyền lực, ham vinh hoa phú quí hay hoan lạc xác thịt cho bản năng. Hãy nhìn vào những con vật, chúng sống một cách gần như là theo bản năng. Chúng đâu có tham lam đến mức vô chừng như con người, chúng thể hiện uy quyền nhưng không đam mê, chúng quan hệ để duy trì giống nòi chứ không truy hoan đến mức đồi bại.

Chẳng hạn như, nhiều người thích tiền, thích đến mức mờ mắt, đến mức cuồng loạn. Họ suy nghĩ về tiền nhiều đến mức thấy đâu đâu cũng là tiền, dù tiền của ai cũng nghĩ rằng đó (sẽ) là của mình. Họ dùng trăm phương ngàn kế để có được tiền, cho dù có phải sử dụng những hành động xấu xa như thế nào chăng nữa. Và họ đổ lỗi những điều đó là do bản năng của con người, rằng là ai cũng ham tiền, chỉ là người khác thì cố gắng kìm nén điều đó còn họ thì thể hiện ra có phần thái quá mà thôi. Tôi không hề chê trách sự ham tiền (vì điều đó còn phụ thuộc vào ngữ cảnh) nhưng tôi không đồng ý đó là bản năng của con người. Tiền tệ là do xã hội tạo ra, là để vận hành nền kinh tế một cách dễ dàng. Nó là một công cụ được tạo ra bởi lí trí, bởi vậy nên nó không thuộc về bản năng. Có chăng là cách mà những người đó được giáo dục hay cách họ tiếp thu kiến thức, cách họ trải nghiệm đã tạo ra những tư duy như thế.

  • Thứ hai, là trí năng. Thành phần thứ hai này chính là căn nguyên cho sự lầm tưởng của chúng ta về thế giới này. Trí năng là sự duy lí, là sự tư duy một cách có lô-gic. Khi nhìn thấy một sự vật hay hiện tượng, ta tìm mọi cách để diễn giải chúng. Ta cảm thấy vui vẻ, thoải mái khi có thể giải thích được mọi thứ một cách phù hợp. Nhưng nếu không thể dự đoán được chúng, không thể hiểu cách chúng hoạt động thì ta sẽ cảm thấy khó chịu, bứt rứt không yên. Rồi ta lại cố gắng luận giải theo hướng khác, theo cách khác, cho dù có vô lí hay mơ hồ đến đâu chăng nữa. Rất nhiều lần lịch sử đã cho thấy rằng những luận giải của các bậc tiền nhân đều là sự ngộ nhận, thậm chí là cố chấp đến mức lệch lạc. Và cho dù khi thời gian trôi qua, những tinh hoa của loài người sẽ sửa chữa những lầm lạc đó, dẫn dắt con người đi trên những con đường tìm kiếm tri thức mới, với ngọn đèn dẫn đường mới thì vẫn không có gì đảm bảo con đường mà nhân loại đang đi sẽ dẫn tới chân lí đích thực cả. Mà cái gọi là chân lí đích thực đó, cũng không có gì đảm bảo là có thực cả.

Xã hội của chúng ta đề cao sự duy lí. Điều đó không hẳn là sai, nhưng lại có chút không công bằng. Dẫu vậy, cái mà tôi muốn bàn luận ở đây là, chúng ta nên làm chủ suy nghĩ , định hướng cho tư duy của mình hơn là đi theo nó. Trí năng nên là người giúp việc cho ta hơn là ông chủ của ta.

Bản thân tôi cũng là một người suy nghĩ rất nhiều. Suy nghĩ mọi lúc mọi nơi. Thậm chí cả khi đi ngủ thì giấc mơ cũng là một minh chứng cho thấy tôi vẫn đang suy nghĩ. Nhưng mà khác với lúc tỉnh, những giấc mơ cho tôi thấy một cái tôi khác, trần trụi và sợ hãi. Những lúc đó, tôi có cảm giác như trí năng đã đi ngủ và nhường lại sân khấu cho con người sâu thẳm bên trong tôi, mặc dù là tôi chẳng hiểu những điều đó có nghĩa là gì đi nữa. Mà dẫu sao thì sau khi thức dậy những điều đó cũng sẽ nhanh chóng bị chìm ngập giữa bộn bề cuộc sống mà thôi!

  • Thứ ba, là trực giác. Trực giác là chủ đề chính trong cuốn sách này. Theo Osho, trực giác vượt qua những hiểu biết thường thức của con người, và không có con đường nào có thể dẫn đến trực giác được. Trực giác là một bước nhảy lượng tử, chữ của Osho, và do đó ta không thể tư duy để đạt được nó. Trong thiền định, ta có thể coi như đó là sự đốn ngộ. Càng suy nghĩ về nó thì lại càng rời xa nó. Nhưng trực giác không ở đâu xa, nó ở trong chính mỗi con người. Nếu tạm phân chia ra thì bản năng sẽ là tầng thấp nhất, trí năng là tầng giữa và trực giác là đỉnh của ngôi nhà mang tên “con người”. Trực giác không phải là tiềm thức, cũng không phải là vô thức. Linh cảm (đặc biệt là của phụ nữ) cũng chỉ là một mảnh ghép nhỏ của trực giác. Trực giác vốn không phải là thứ để truy cầu, mà là cảm nhận. Khi những suy nghĩ bên trong biến mất, khi mọi giác quan đều ngừng tiếp nhận các tác động của ngoại cảnh…đó là lúc trí năng tạm thời lắng xuống, hòa nhịp cùng với bản năng…thì trực giác sẽ lên tiếng. Nói một cách hình tượng thì lúc này ta đang ở đây nhưng như không đang ở đây. Nhục thể tự vận hành là do bản năng, nhờ trí năng mà nó được sống nhưng cảm nhận được bản chất thật sự của sự sống là do trực giác.

Vốn dĩ tôi muốn diễn giải trực giác theo một cách dễ hiểu hơn nhưng khi làm thế tựa hồ chung lại làm mất đi bản chất thật sự của nó. Không những vậy, những hiểu biết nhỏ bé của tôi sẽ làm cho người đọc có những suy nghĩ lầm lạc về trực giác của Osho. Trực giác của Osho cũng như sự đốn ngộ khi nhập thiền hay Đạo của Lão Tử, (không nên và cũng) không thể giải thích bằng ý kiến cá nhân được.

“Đạo khả Đạo phi thường Đạo

Danh khả Danh phi thường Danh”.

Osho cũng chỉ ra rằng con người khó có thể tiếp cận được cái được gọi là trực giác là bởi những rào cản của sự hiểu biết, bao gồm tri thức, trí năng, trí tưởng tượng và quyền lực.

  1. Sự hiểu biết và tri thức là không giống nhau như nhiều người vẫn nghĩ, trong khi sự hiểu biết thể hiện sự trải nghiệm thì tri thức lại là lí thuyết được truyền lại. Biết càng nhiều thì khoảng cách giữa ta và sự vật càng lớn, biết càng ít thì khoảng cách giữa ta và sự vật càng nhỏ. Khi không có hiểu biết gì thì khoảng cách đó không còn, ta dễ dàng đắm chìm vào sự vật đó và cảm nhận. Nhưng ngay khi ta cảm nhận về sự vật đó thì ta đã có tri thức về nó. Chính vì vậy khi tiếp nhận tri thức từ tiền nhân là ta đã đánh mất cơ hội được trải nghiệm cái cảm nhận đẹp đẽ lúc sơ khai đó. Và dù ta có tìm kiếm được cơ hội trải nghiệm được sự vật mới đi chăng nữa, gần như ngay sau đó ta cũng đã tự tạo ra tri thức cho bản thân và mất đi cảm nhận lúc ban đầu.
  2. Trí năng là rào cản tiếp theo, như đã nói ở trên. Trí năng ngăn cản ta tìm đến trực giác là vì ta không làm chủ được nó. Trí năng là sự duy lí, là tư duy lô-gic. Trí năng không hiểu nổi trực giác, đối với trí năng thì trực giác là phi lô-gic, không có lí lẽ và không diễn giải được. Vì thế nó từ chối trực giác.
  3. Đôi khi chúng ta vẫn nhầm lẫn trí tưởng tượng và trực giác vì chúng có vẻ là mơ hồ như nhau, nhưng thực sự không phải vậy. Trí tưởng tượng là sự sáng tạo hiện thực của con người. Khi ta mơ thì đó cũng là lúc ta tưởng tượng. Và hơn thế nữa, ta vẫn có thể thỏa sức tưởng tượng ngay cả lúc tỉnh. Dù vậy, tất cả những sản phẩm này của tưởng tượng đều là ảo giác, là không có thực. Nhưng trực giác thì khác. Trực giác không tạo ra điều gì cả, nó chỉ phản chiếu lại sự vật mà thôi. Vốn dĩ trực giác luôn ở trong mỗi chúng ta, và vì thế ta không sáng tạo ra chúng, ta chỉ cần tìm tới chúng. Lưu ý rằng các chất kích thích mà con người sử dụng để thoát khỏi thực tại (như những người đó thường nói) đều dẫn đến các hiện thực sai lệch, đó là kết quả của việc kích thích trí tưởng tượng thái quá. Trực giác không nên và cũng không thể được tìm thấy bởi những thứ như thế này.
  4. Quyền lực hay thống trị, theo Osho, là sự thể hiện của cấp bậc thấp nhất – bản năng. Quyền lực là sự cố gắng chứng tỏ bản thân xuất chúng, là sự tranh đấu để thể hiện bản thân. Nhưng tại sao lại phải làm như vậy? Theo tôi thì quyền lực cũng là một sự tự ám thị bởi những quan niệm của xã hội kiểu như phụ nữ thì thấp kém hơn đàn ông, kẻ có nhiều tiền thì thành công hơn kẻ ít tiền…Tất cả mọi sự so sánh đều dẫn đến sự tranh đua, và nếu anh hơn tôi nghĩa là anh có quyền lực hơn tôi, và anh có quyền thống trị tôi và những người như tôi. Nhưng nếu những lí lẽ đó biến mất thì sao? Tôi không cần phải kiếm nhiều tiền như anh, vì điều đó không nói lên rằng tôi thua kém anh. Tôi cũng không cần đánh thắng anh vì chúng ta so tài là để tìm hiểu võ thuật của nhau. Nếu hết thảy mọi thứ đều là để tìm đến chân lí thì thắng hay thua, hơn hay kém đều không quan trọng nữa. Mọi người đều có những suy nghĩ riêng nhưng chân lí thì chỉ có một. Khi trực giác được vận hành, mọi sự xung đột sẽ không còn. Lúc này chân lí sẽ hiển hiện cho tất cả mọi người và quyền lực sẽ biến mất.   

Điểm chung của những rào cản này chính là sự áp đặt ban đầu. Và vì vậy, để tìm đến trực giác thì việc đầu tiên là hãy phủ nhận những áp đặt này.

Phủ nhận tri thức.

Phủ nhận trí năng.

Phủ nhận trí tưởng tượng.

Phủ nhận quyền lực.

Buông xả tất cả những rào cản trên, biến những tư duy thành những cảm nhận, ta sẽ đạt được trực giác siêu linh.

Đó không phải là con đường dễ dàng.

Nhưng khi đạt được điều đó, ta sẽ cảm thấy cuộc đời này đẹp đẽ đến nhường nào.

Điểm đánh giá: 3,5/5

[09/23/2019]Lại việc ăn thịt chó.

Bài viết tham khảo: ‘Ăn thịt gà, bò, heo cũng không tốt đẹp hơn so với ăn thịt chó’: đúng không?

Tôi không định chê bai bất cứ đối tượng nào trong bài viết này, tôi chỉ muốn đưa ra ý kiến cá nhân của mình về vấn đề này thôi. Các bạn có thể đưa ra ý kiến, nhưng tôi sẽ không tranh luận bất cứ điều gì ở đây :).

Phải nói ngay từ đầu là tôi cũng là một người ăn thịt chó, thậm chí còn cảm thấy thịt chó khá là ngon nữa là đằng khác. Nhưng tôi không hề ủng hộ hay cổ súy cho bất cứ bên nào trong vấn đề này.

Với cá nhân tôi, thịt chó cũng như bao loại thịt khác, cũng là một nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Cho nên giết chó ăn thịt đối với tôi nó cũng giống như giết gà, vịt hay bò để lấy thịt vậy. Vấn đề ở đây là chó nuôi để lấy thịt thì khác với chó nuôi làm cảnh, hay những con chó bị trộm thì không giống những con chó được nuôi ở trang trại. Bên cạnh đó, khâu chế biến thịt chó chưa thực sự được đảm bảo vệ sinh khiến cho người dùng có thể bị nhiễm các bệnh đường ruột nguy hiểm. Nhưng những vấn đề này không nên dùng để biện hộ cho việc cấm thịt chó, vì đó là một chuyện hoàn toàn khác.

Nhiều người cho rằng chó là bạn của loài người, ăn thịt chó là “ăn bạn” cho nên cấm ăn thịt chó là hợp lí. “Ăn thịt bạn của mình” thì là sai trái. Chó là bạn của con người, điều này cũng đúng. Nhưng kết hợp cả hai cái này lại thì chưa đúng, bởi không phải con chó nào cũng là “bạn” của chúng ta cả. Có chăng chỉ là một số “nhiều” các cá thể nào đó mà thôi. Suy luận như thế có vẻ như đang đánh đồng cho tất cả mà theo tôi thấy đó như là một kiểu ngụy biện vậy.

Cũng có những ý kiến cho rằng loài chó là biểu tượng cho sự trung thành nên ăn thịt chó là không đúng. Mà theo tôi biết thì nhiều loại động vật và thực vật được coi là biểu thị của khá nhiều đức tính của con người, như vậy chúng ta có nên ăn những “đức tính biểu tượng” đó không?

Cũng có người lập luận rằng khác với những gia súc, gia cầm khác, chó còn làm rất nhiều việc khác nữa như giữ nhà, canh trộm, lại còn biết an ủi, quan tâm con người… Nói vậy là vì ít người biết rằng ngoài chó ra thì nhiều con khác cũng biết trông nhà, đuổi trộm như ngỗng, gà hay lừa. Những động vật biết quan tâm, an ủi con người thì cũng không thiếu gì, có chăng là chúng không có cơ hội được thể hiện nhiều như loài chó mà thôi.

Tôi tin rằng, với một người bình thường, khi bạn chăm sóc một thứ gì đó hay một con vật gì đó đủ lâu thì bạn cũng sẽ cảm nhận được “tình cảm” của chúng dành cho mình. Tôi không ít lần cũng “nói chuyện” và “vỗ về” cái xe máy mà tôi vẫn thường sử dụng để đi làm và đôi lúc, tôi cảm thấy dường như nó cũng có “cảm tình” với tôi đấy!

Nếu bạn cho rằng, ừ thì cũng có nhiều loài làm được những việc như loài chó, nhưng tổng hợp lại hết thảy thì chỉ có loài chó mới thỏa mãn tất cả những điều trên. Nhiều loài động vật khá thông minh, bạn hoàn toàn có thể huấn luyện chúng làm những điều này. Nhưng có lẽ sẽ tốn khá nhiều công sức và thời gian. Còn loài chó thì sau hàng ngàn năm tiến hóa cùng con người đã được loài người “đào tạo” và sẵn có những điều đó rồi, việc gì phải phí sức để có thêm “bạn của con người” nhỉ! Ấy thế thì chung qui lại, bạn cũng chỉ mong muốn có một “loài” nào đó biết trông nhà cho bạn, giữ của cho bạn, an ủi bạn, biết vui mừng khi bạn về nhà…nói chung thì tất cả là vì bạn mà thôi, phải không?

Những người ủng hộ cấm ăn thịt chó chưa hẳn là vì lí do nhân đạo. Cũng như những người hô hào việc hạn chế sử dụng các sản phẩm làm từ nhựa để bảo vệ môi trường, mục đích của họ không hẳn là bảo vệ môi trường mà thực ra là bảo vệ loài người trước những tác hại do chính con người gây ra. Họ cấm ăn thịt chó vì sợ những hệ lụy do việc ăn thịt chó có thể gây ra, và họ cho rằng đó là vì sự nhân đạo. Và họ sẽ cảm thấy mình “đạo đức hơn” khi làm điều đó, vậy thôi!

[Book]Dữ liệu lớn – Bernard Marr

Thông tin sách

Tên sách: Dữ liệu lớn

Tác giả: Bernard Marr

Dịch giả: Thủy Nguyên

Số trang: 307

Quyết định xuất bản số 48/QĐ-NXBCT cấp ngày 25/05/2018


Những suy nghĩ sau khi đọc

Cuốn sách này mang tới rất nhiều kiến thức bổ ích về dữ liệu và phân tích dữ liệu. Sau khi đọc xong nó thì tôi có cảm giác như vừa trải qua một lớp học cấp tốc về dữ liệu lớn vậy. Vì vậy, tôi cũng không biết nên tóm tắt lại như thế nào nữa. Có lẽ tôi nên đưa những kiến thức này vào giáo trình dạy học của tôi thì hơn, ha ha ha!

Song, tôi nghĩ là một vài dòng suy nghĩ về nội dung cuốn sách là điều cần thiết.

Trước hết, hãy nói về khái niệm dữ liệu lớn (big data). Khi nghe đến danh từ “dữ liệu lớn” hay “big data” thì mọi người đều nghĩ ngay về một khối lượng lớn dữ liệu mà những nhà phân tích dữ liệu đang làm việc. Ngay cả tôi cũng vậy. Nhưng có một điều mà chúng ta cần phải làm rõ ở đây, đó là dữ liệu lớn như vậy đã có từ khá lâu trước đây rồi. Những dữ liệu ghi nhận từ nhiều ngành nghề, lĩnh vực, trong đời sống lẫn trong khoa học, từ trái đất cho đến ngoài vũ trụ…Sự thực là chúng ta đã tích lũy được một lượng lớn dữ liệu như vậy từ cách đây nhiều năm rồi. Và đó không phải là điều mà nội dung cuốn Dữ liệu lớn của Bernard Marr muốn nói đến ở đây. Theo Bernard, bất cứ điều gì xảy ra thì đều để lại dấu vết. Những “dấu vết” này được thu thập và xử lí sẽ trở thành dữ liệu và vì có rất nhiều thứ xảy ra quanh ta mỗi khoảnh khắc nên sẽ có rất rất nhiều nguồn cung cấp dữ liệu như vậy. Đó chính ý tưởng của dữ liệu lớn.

  • Trước đây, chúng ta thường thu thập dữ liệu và lưu trữ chúng ở dạng có cấu trúc hay nói cách khác theo một định dạng chuẩn nào đó. Ví dụ như khi lưu thông tin về tên của khách hàng thì chúng ta sẽ nhập theo 3 trường dữ liệu: Họ – tên đệm và tên. Và mặc dù là chúng ta cũng có cả dữ liệu phi cấu trúc, chúng ta gần như không sử dụng được chúng một cách thực sự hiệu quả. Ảnh chụp hay các video là những ví dụ điển hình cho dữ liệu phi cấu trúc.
  • Tiếp theo, với sự phát triển của công nghệ thì chúng ta có thể khai thác thêm nhiều nguồn dữ liệu mới từ các hoạt động hàng ngày của con người, các cuộc đối thoại, dữ liệu ghi nhận từ các cảm biến và internet vạn vật.
  • Đến đây, chúng ta sẽ phải đối mặt với một lượng dữ liệu cực lớn. Chúng ta gần như là bị chìm trong “biển” dữ liệu này. Vấn đề là với một lượng lớn dữ liệu như vậy thì chúng ta cần có một thiết bị có dung lượng lưu trữ thực sự khổng lồ. Và chúng ta đã giải quyết được bài toán về việc lưu trữ khi các thiết bị lưu trữ dữ liệu có dung lượng ngày càng lớn được phát triển. Hãy xem xét một ví dụ nhỏ, vào những năm 50 của thế kỉ 20 người ta phải xây hẳn một tòa nhà để chứa một thiết bị có dung lượng tương đương với cái ổ cứng trong chiếc laptop mà tôi đang sử dụng lúc này đây!
  • Và quan trọng nhất, hơn cả việc lưu trữ dữ liệu, đó là đến bây giờ chúng ta đã có thể xử lí một lượng lớn dữ liệu gần như ngay lập tức. Đó là nhờ vào những cỗ siêu máy tính, công nghệ AI, Learning Machine…những công cụ hỗ trợ phân tích dữ liệu cực kì mạnh mẽ. Đúng vậy! Nếu không thể hiểu hay sử dụng những dữ liệu một cách có ích cho chúng ta thì việc có nhiều dữ liệu hơn nữa phỏng có cần thiết? Đến đây, chúng ta mới thực sự có được thứ mà ta vẫn gọi là dữ liệu lớn.

Vì vậy, như tác giả đã đề xuất, ta nên gọi những dữ liệu này là dữ liệu thông minh (SMART data) thay vì là dữ liệu lớn (BIG data) để thể hiện đúng bản chất của nó. Và S-M-A-R-T cũng chính là bộ khung cho việc sử dụng dữ liệu lớn một cách đúng đắn, bao gồm[1]:

  • Bắt đầu bằng việc xây dựng chiến lược (Strategy).
  • Sau đó là đo lường các dữ liệu cần thiết (Measure).
  • Sử dụng các công cụ để phân tích dữ liệu (Analyze).
  • Báo cáo kết quả hỗ trợ cho việc ra quyết định (Report).
  • Và cuối cùng, chuyển hóa tất cả vào hoạt động (Transport).

Có lẽ khi nói đến việc sử dụng dữ liệu lớn thì nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc thu thập thật nhiều dữ liệu nhất có thể. Nhưng với nguồn lực có giới hạn thì chỉ khoảng 1% số lượng công ti trên thế giới như những Google, Facebook hay Amazon mới có thể tiếp cận được cái gọi là “lớn” đó. Việc của chúng ta ở đây là xây dựng một bộ dữ liệu nhỏ nhất (vâng, nhỏ nhất) nhưng rõ ràng nhất. Bởi vì dù chúng ta có thu thập nhiều hơn nữa thì cũng khó mà khai thác được toàn bộ thông tin hữu ích từ chúng. Thêm vào đó, giá trị của dữ liệu không phải là bản thân dữ liệu mà là cách chúng ta sử dụng chúng. Do đó, thay vì đi tìm hiểu tất cả (và chết chìm trong dữ liệu) thì chúng ta cần biết mình cần dữ liệu gì. Nghĩa là đầu tiên chúng ta sẽ đưa ra những câu hỏi, sau đó xác định những câu hỏi nào mà mình cần trả lời trước khi thu thập dữ liệu. Nên nhớ là đôi khi câu hỏi thì quan trọng hơn cả đáp án. Bảng các câu hỏi SMART trong sách sẽ giúp bạn (hay doanh nghiệp của bạn).

Như đã trình bày ở trên, trong thời đại Dữ liệu Lớn thì mọi thứ mà chúng ta làm luôn để lại dấu vết kĩ thuật số – thứ mà có thể được sử dụng và phân tích. Sau khi đã xác định dữ liệu cần thu thập thì chúng ta sẽ xem xét một hệ thống phân cấp logic để giải đáp các câu hỏi SMART. Hệ thống phân cấp này đi từ mức độ dễ tìm, dễ phân tích và ít tốn kém (dữ liệu nội bộ + có cấu trúc) cho đến mức độ khó kiếm hơn, cần kĩ thuật phân tích cao với chi phí cao (dữ liệu bên ngoài + phi cấu trúc). Mặc dù ta đều biết rằng nguồn dữ liệu bên ngoài phi cấu trúc thì thường chứa nhiều thông tin quan trọng song mục đích của chúng ta là tối ưu nguồn lực: nếu chỉ cần sử dụng dữ liệu nội bộ có cấu trúc cũng có thể trả lời những câu hỏi cần thiết thì tại sao lại phải phí thời gian và nguồn lực quí báu để tìm hiểu dữ liệu từ các nguồn khác?

Sau khi đã sở hữu được dữ liệu cần thiết thì việc công việc tiếp theo là biến những dữ liệu đó thành hiểu biết có ý nghĩa để hỗ trợ việc thực hiện chiến lược. Đây chính là phần tạo ra giá trị (value) cho dữ liệu. Có một điều mà nhiều người vẫn thường nhầm lẫn về sự tương quan và mối liên hệ nhân quả. Nên nhớ rằng hầu hết các thuật toán hiện đại đều chỉ có thể xác định xác suất xảy ra một sự kiện nào đó chứ nó không thể chỉ ra một cách chắc chắn rằng điều gì dẫn đến sự kiện đó. Nói cách khác, các thuật toán chỉ làm công việc nhận diện những mối tương quan và sử dụng chúng để dự báo rằng khả năng xảy ra một sự kiện bất kì là cao hay thấp (và dù cao đến đâu thì cũng không thể đạt được tới giá trị 100%). Có rất nhiều kĩ thuật phân tích tinh vi cực kì hấp dẫn đã được phát triển trong thời gian gần đây, nhưng đừng để lạc hướng bởi chúng. Nhiệm vụ của chúng ta là tìm một kĩ thuật dễ tiếp cận, ít tốn kém và tốt nhất có thể.

Sau khi đã có kết quả phân tích thì bước tiếp theo chúng ta cần làm chính là trình bày lại những hiểu biết có được cho mọi người cùng hiểu (đặc biệt là các lãnh đạo 😊). Trong hầu hết các trường hợp, các nhà lãnh đạo luôn gặp khó khăn trong việc nắm bắt mọi thông tin được đưa đến cho họ. Việc không nắm rõ thông tin sẽ gây ra những hiểu nhầm và có thể dẫn đến những quyết định sai lầm đáng tiếc. Hình tượng hóa dữ liệu thông qua các biểu đồ hay đồ họa thông tin là một cách thức trình bày rất hiệu quả và nên được sử dụng thay vì chỉ báo cáo kiểu truyền thống với những bảng biểu đầy những chữ và số.

Và cuối cùng là phần biến đổi doanh nghiệp. Sử dụng dữ liệu lớn trong kinh doanh là một quá trình cải tiến liên tục, do đó nếu chỉ “ngồi lên” dữ liệu và dừng đặt câu hỏi sau khi đã phân tích xong chúng thì có nghĩa là bạn đang giậm chân tại chỗ trong khi những người khác đang tiến về phía trước. Có một số câu hỏi chỉ cần một lời giải đáp, nhưng cũng có những câu hỏi mà đáp án sẽ thay đổi theo thời gian. Vì vậy, việc thu thập dữ liệu, phân tích và báo cáo định kì là một gợi ý hay cho hoạt động kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào.

Điểm đánh giá: 3,0/5

[1] Tôi đã thay đổi một chút các chữ cái bắt đầu của bộ khung này, vì vậy thực sự xin lỗi tác giả Bernard. Những thay đổi này là do những nhận định chủ quan của tôi dựa trên những nội dung mà tôi cho là quan trọng. Và vì vậy, những bạn nào đọc về bài viết này nên đọc tác phẩm gốc để hiểu được ý tưởng gốc của tác giả.

[Book]Dữ liệu nhỏ – Martin Lindstrom

Thông tin sách

Tên sách: Dữ liệu nhỏ

Tác giả: Martin Lindstrom

Dịch giả: Ngân Tuyến

Số trang: 319

Quyết định xuất bản số 42/QĐ-NXBCT cấp ngày 28/08/2017


Những suy nghĩ sau khi đọc và tóm tắt sách

Dữ liệu nhỏ của tác giả Martin Lindsrom là một loạt các câu chuyện về việc xây dựng thương hiệu của những công ti hay tập đoàn nổi tiếng trên thế giới. Bằng cách nắm bắt hành vi của người tiêu dùng thông qua những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống như việc dán các miếng dán lên tủ lạnh, thứ tự sắp đặt các lọ đựng gia vị trong nhà bếp hay thói quen sử dụng bàn chải đánh răng, Martin đã cho ta thấy rằng những mẩu dữ liệu nhỏ và tưởng chừng không có ý nghĩa này sẽ cung cấp các giải pháp cho vấn đề kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào.

Continue reading “[Book]Dữ liệu nhỏ – Martin Lindstrom”

[Book]Hôn nhân chân kinh – Gari Chapman

Thông tin sách

Tên sách: Hôn nhân chân kinh

Tác giả: Gari Chapman

Dịch giả: Chung Quý

Số trang: 197

Quyết định xuất bản số 893/QĐ-NXBLĐ cấp ngày 11/07/2018


Những suy nghĩ sau khi đọc và tóm tắt sách

Tôi đã viết những dòng tóm tắt này cách đây hơn một tháng nhưng vì lí do công việc nên bây giờ mới viết lên blog được. Một tháng dài và mệt mỏi 😊.

Dù tôi cũng chưa định lập gia đinh (ít nhất là trong tương lai gần) nhưng dù sao thì tìm hiểu trước cũng nên mà, phải không nhỉ?! Nói vậy chứ ít nhất thì quyển sách này đã có cơ hội được sử dụng thực sự cho đứa em của tôi vào thời điểm này. Hi vọng nó sẽ đọc được điều gì đó bổ ích.

Continue reading “[Book]Hôn nhân chân kinh – Gari Chapman”

[06/19/2019]Về nghiên cứu khoa học.

Cho đến bây giờ thì tôi vẫn chưa thực sự viết được một bài nghiên cứu khoa học nào cả. Thói lề mề và không chú tâm của tôi đã khiến cho tôi bỏ lỡ một vài cơ hội từ đầu năm đến giờ. Nhân vừa mới đọc xong quyển Đi vào nghiên cứu khoa học của thầy Nguyễn Văn Tuấn, tôi muốn tổng hợp lại vài điều thầy chia sẻ trong sách, đồng thời bổ sung thêm một số ý của bản thân. Hi vọng rằng chúng sẽ giúp tôi có những bước đi đúng đắn trên con đường nghiên cứu khoa học mà tôi đã chọn.

Trước hết, để nghiên cứu khoa học thì chúng ta cần có văn hóa nghiên cứu khoa học. Dựa vào những hiểu biết của tôi thì văn hóa nghiên cứu khoa học [tối thiểu] bao gồm những điều sau đây:

  • Hoài nghi khoa học: điều này thực sự rất cần thiết đối với một người nghiên cứu. Khi gặp một sự vật hay sự việc bất kì, một người có văn hóa khoa học sẽ đặt câu hỏi tại sao, từ đó liên tục suy nghĩ cho đến khi phát hiện ra vấn đề. Dù chúng ta không giải quyết được vấn đề thì hoài nghi khoa học cũng giúp chúng ta nâng cao khả năng quan sát hiện tượng và tư duy.
  • Thành thật khoa học: làm khoa học là hành trình đi tìm và truyền đạt lại kiến thức. Những kiến thức này cần được hệ thống hóa và công bố cho tất cả mọi người cùng biết, không hề giấu giếm. Vì vậy, ta phải tôn trọng sự thật và đặt nó lên trên hết thảy. Tuyệt đối tránh áp đặt định kiến vào các phát biểu hay kết luận nghiên cứu[1]. Bên cạnh đó, một phát biểu có tính khoa học cần có cơ sở (dựa trên kết quả nghiên cứu) hay tài liệu tham khảo (nếu trích dẫn từ nghiên cứu khác). Việc kèm theo tài liệu tham khảo không chỉ giúp nghiên cứu của chúng ta thêm vững chắc mà còn là sự ghi nhận công trạng của những người nghiên cứu trước. Hãy luôn ghi nhớ rằng kiến thức có tính kế thừa và hầu hết những hiểu biết hiện tại mà chúng ta có là do được truyền đạt lại.
  • Kiểm chứng khoa học: “bằng chứng khoa học có thể không hoàn hảo nhưng dựa vào bằng chứng khoa học chúng ta ít sai hơn là dựa vào kinh nghiệm và niềm tin duy ý chí”. Phương pháp nghiên cứu là thực hành khách quan, nghĩa là dựa trên cơ sở lí thuyết và dữ kiện được thu thập một cách khách quan. Thêm vào đó, những kết quả nghiên cứu phải có tính tái xác thực, nghĩa là có thể kiểm tra tính đúng đắn [của những kết quả này] nếu ta thực hiện những nghiên cứu tương tự khác.
  • Trách nhiệm xã hội: nghiên cứu khoa học là nhằm phục vụ cộng đồng và xã hội. Có những nghiên cứu được ứng dụng ngay vào thực tiễn và thể hiện sự hữu ích một cách trực tiếp (thường là những nghiên cứu ứng dụng) và cũng có những nghiên cứu cung cấp tri thức nhằm hỗ trợ hoặc tạo động lực cho sự phát triển một cách gián tiếp (thường là những nghiên cứu cơ bản). Còn những nghiên cứu xa rời thực tế, không đem lại lợi ích cho xã hội thì nên hạn chế để tránh lãng phí tài nguyên.

Tiếp theo, ta cần có những hành động cụ thể để đạt được thành tựu trong nghiên cứu khoa học:

  • Cần chọn cho mình một chương trình học hay một hướng đi thích hợp. Chúng ta cần phải hiểu rõ bản thân muốn gì, sau đó đặt ra các mục tiêu cụ thể và dựa theo đó mà phấn đấu. Không hẳn là phải làm những gì lớn lao thì mới gọi là thành công. Chỉ cần học hành một cách cẩn thận, tập trung và chuyên sâu thì đều có thể giúp ích cho xã hội.
  • Có được định hướng rồi thì ta phải kiên trì theo đuổi, không nên bỏ giữa chừng vì nản chí hay những lí do thiếu thuyết phục khác. Nên nhớ rằng nghiên cứu khoa học là một quá trình lâu dài và nóng vội cũng không giúp ta đạt được thành quả nhanh hơn – “dục tốc bất đạt”. Hãy chấp nhận một sự thật rằng, con đường nghiên cứu khoa học sẽ có rất nhiều chông gai và những kết quả không như mong đợi chỉ là những thử thách bình thường.
  • Chọn trường tốt, thầy cô tốt và đồng nghiệp tốt. Trường tốt là nơi tạo điều kiện cho ta tiếp cận tri thức khoa học tiên tiến và học hỏi, trao đổi ý tưởng với những người “có đẳng cấp”. Thầy cô tốt là những người sẽ giúp ta được tự do theo đuổi ý tưởng và trợ giúp kiến thức cũng như cách tiến hành nghiên cứu một cách khoa học và hợp lí. Tương tác với đồng nghiệp tốt sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu. Đôi khi từ những cuộc thảo luận với đồng nghiệp chúng ta sẽ nảy sinh những ý tưởng mới hay những khám phá quan trọng trong lĩnh vực mà ta đang quan tâm.
  • Song song đó, chúng ta phải biết được mình đang ở đâu bằng cách đặt công trình nghiên cứu của mình trong bức tranh toàn cục của lĩnh vực nghiên cứu. Luôn giữ một góc nhìn toàn cảnh sẽ giúp ta duy trì định hướng nghiên cứu khoa học được đặt ra ban đầu.
  • Nắm vững phương pháp và kĩ thuật giúp ta trở thành một người nghiên cứu độc lập, ít bị phụ thuộc vào người khác. Chúng ta không phủ nhận lợi ích của sự hỗ trợ, nhưng phải ý thức rõ rằng công việc nghiên cứu khoa học trước hết là của cá nhân, mọi hỗ trợ khác nên [và chỉ] là bổ sung, không [nên] có tính quyết định. Bên cạnh đó, rèn luyện kĩ năng thông tin và truyền đạt cũng giúp ta tự tin hơn khi tham gia vào “đấu trường” quốc tế. Sẽ thật đáng tiếc nếu chúng ta làm nghiên cứu rất tốt nhưng lại không trình bày được những điểm đáng chú ý của nghiên cứu hay diễn đạt ý tưởng sai lệch đi. Khi đã có được hai điều ở trên thì chúng ta hãy thể hiện thái độ “ở trên” một cách xứng đáng. Điều đó không có nghĩa là trịch thượng hay thái độ bề trên, kiêu ngạo. “Ở trên” ở đây có nghĩa là đứng bên trên những tranh chấp không đáng có, hành xử một cách lịch sự và tập trung vào công việc của bản thân.

Cuối cùng, tôi xin được trình bày lại một số hiểu biết trong hoạt động nghiên cứu khoa học mà tôi nghĩ là cần thiết. Điều này giúp ta tránh những tranh cãi không cần thiết khi thảo luận về các khía cạnh cơ bản của một vấn đề khoa học.

Với tôi, việc phân biệt nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là cần nhưng không nên quá rạch ròi. Thực tế thì nhiều nghiên cứu khoa học gần đây là một sự kết hợp cả yếu tố “cơ bản” lẫn yếu tố “ứng dụng”. Để tạm phân biệt khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng thì ta có thể sử dụng 3 tiêu chí sau đây của thầy Tuấn:

  • Động cơ nghiên cứu: mục tiêu của khoa học cơ bản là [sáng tạo] tri thức còn động cơ của khoa học ứng dụng là giải quyết vấn đề thực tế.
  • Sản phẩm nghiên cứu: sản phẩm của khoa học cơ bản là tri thức mới có tính lí thuyết và dữ liệu mới, còn sản phẩm của khoa học ứng dụng là công nghệ và tri thức thực tế.
  • Giá trị nội tại: khoa học cơ bản thì hướng tới hiểu biết về thế giới chung quanh còn khoa học ứng dụng thì nhằm thay đổi hoặc gìn giữ thế giới.

Hầu hết các nghiên cứu khoa học đều bắt đầu bằng những câu hỏi. Vậy, một câu hỏi nghiên cứu như thế nào thì được coi là hay? Một câu hỏi nghiên cứu hay cần đảm bảo 5 tiêu chuẩn sau:

  • Tính khả thi – feasible: cần nhận thức được hạn chế trong thực tế ngay từ khi suy nghĩ đến câu hỏi nghiên cứu. Khi nói về tính khả thi của nghiên cứu thì ta cần xét đến 5 yếu tố sau: đối tượng, kĩ thuật, kinh phí, thời gian và phạm vi. Tuy nhiên, có những điều là hạn chế ở hiện tại nhưng vẫn có khả năng khả thi ở tương lai, ta cũng cần lưu ý điều này.
  • Tính thú vị – interesting: đây nên là động cơ để theo đuổi nghiên cứu khoa học. Một câu hỏi nghiên cứu thú vị thì thường mang tính thách thức và khiến cho mọi người cảm thấy bất ngờ.
  • Tính mới – novelty: nghĩa là đóng góp thêm thông tin mới hay dữ liệu mới. Những nghiên cứu lặp lại đơn thuần thì thường nhàm chán, ta không nên tốn thời gian và công sức vào những nghiên cứu như vậy.  
  • Tính đạo đức – ethics.
  • Tính có liên quan, ảnh hưởng – relevance.

Đối với các nghiên cứu khoa học thì tài liệu tham khảo thực sự rất cần thiết. Không chỉ là sự ghi nhận đóng góp của những người đi trước mà việc tham khảo [nhiều] tài liệu cũng cho thấy chúng ta thực sự nghiêm túc khi tiến hành nghiên cứu khoa học. Ở đây chúng ta không bàn về cách trích dẫn[2] mà là khi nào thì cần phải trích dẫn. Đó là:

  • Trích dẫn nguyên văn nghiên cứu hay phát biểu của một tác giả hay của chính mình.
  • Khi đề cập đến một phát biểu hay tóm lược ý kiến của người khác mà chúng ta dùng làm nền tảng cho nghiên cứu của mình.
  • Những phát biểu có kèm theo con số, đề cập đến dữ liệu hay phát hiện của người khác.

Không phải tất cả các nghiên cứu đăng báo thì đều được coi là bài báo khoa học. Một bài báo được xem là bài báo khoa học chỉ khi nào “nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn”. Ta có thể hiểu là cần phải có một đội ngũ chuyên gia trong ngành giỏi và uy tín, một lộ trình xét duyệt khách quan và phù hợp, các tiêu chí khoa học cụ thể và hợp lí, tập san đúng chuyên ngành và được đánh giá tốt. Để đánh giá một tập san khoa học, người ta thường sử dụng hệ số ảnh hưởng (impact factor – IF). IF là tần số trích dẫn trung bình của những bài báo khoa học sau khi đã công bố trong vòng hai năm. IF chỉ tính cho những tập san được liệt kê trong danh bạ ISI hay Journal Citation Report của ISI.

Ví dụ: trong năm 2016 và 2017, tập san A công bố 100 bài báo khoa học. Năm 2018, ta thống kê rằng có 1500 bài báo khác trích dẫn 100 bài báo này thì IF của tập san A sẽ là 1500/100 = 15. Rõ ràng cách tính bình quân như vậy khiến cho IF có khá nhiều hạn chế, song ta sẽ không đề cập ở đây.

Vậy đánh giá một nhà khoa học thì như thế nào? Theo các hội đồng khoa học thì những chỉ số sau đây có thể dùng để đánh giá năng lực của một nhà khoa học:

  • Số lượng ấn phẩm khoa học đã được công bố. Tuy nhiên cần xem xét cả chất lượng của những ấn phẩm này: một nhà khoa học giỏi có thể chỉ công bố một vài công trình nhưng đó là những công trình có giá trị lâu dài và được cả cộng đồng khoa học đánh giá cao.
  • Chỉ số trích dẫn hay số lần trích dẫn công trình, bài báo khoa học. Dù vậy, do đặc thù của từng lĩnh vực mà chỉ số trích dẫn sẽ có sự khác biệt khá đáng kể giữa các bộ môn khoa học. Nghĩa là khi so sánh chỉ số trích dẫn thì ta chỉ nên so sánh các nghiên cứu hay các nhà khoa học có cùng lĩnh vực với nhau.
  • Vị trí của tác giả khi được đề tên lên một bài báo khoa học. Thông thường thì tác giả thứ nhất (tên đầu tiên trong danh sách tác giả) và tác giả sau cùng (tên cuối cùng trong danh sách tác giả) là những người có nhiều đóng góp nhất cũng như chịu trách nhiệm về dữ liệu trong bài báo khoa học. Bằng cách kết hợp vai trò của tác giả trong một bài báo khoa học và hệ số ảnh hưởng của tập san mà bài báo đó được đăng, người ta tính được chỉ số Z theo công thức bình quân có trọng số.

Ví dụ: một nhà khoa học có 3 bài báo khoa học được công bố trên 3 tập san khác nhau. Ở bài báo số 1, nhà khoa học là tác giả chính nên có phần trăm đóng góp là 100%  và IF của tập san đăng bài này là 5. Tương tự như vậy đối với bài báo số 2, phần trăm đóng góp của nhà khoa học là 30% và IF của tập san này là 3. Đối với bài báo số 3, phần trăm đóng góp của nhà khoa học là 30% và IF của tập san thứ ba là 2. Như vậy, chỉ số Z của nhà khoa học này được tính là: 100%*5 + 30%*3 + 30%*2 = 6,5.

  • Chỉ số H (Hirsch index – H index): chỉ số H của một nhà khoa học là “H công trình trong số N công trình của nhà khoa học đó được trích dẫn ít nhất H lần, và (N – H) [công trình] được trích dẫn dưới H lần”.

Ví dụ: một nhà khoa học có H = 10 nghĩa là nhà khoa học này có 10 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 10 lần.

Ngoài ra còn nhiều chỉ số khác như chỉ số H chuẩn hóa, chỉ số g, chỉ số H đương đại, chỉ số H cá nhân…nhưng không một chỉ số nào hoàn chỉnh. Dù vậy, các chỉ số ở trên vẫn cung cấp cho ta những đánh giá khách quan và tốt hơn những ý kiến các nhân hay những yếu tố chủ quan khác trong cơ chế bình duyệt thông thường.


[1] Ý kiến của bản thân chỉ nên dùng để tham khảo. Do đó, không nên nói hay phát biểu một cách mập mờ vì sẽ khiến người nghe nhầm lẫn.

[2] Các chuẩn trích dẫn như APA, Chicago… đều có tài liệu hướng dẫn cụ thể và bạn đọc có thể tải về từ internet.